Nghị định tập trung điều chỉnh các quy định liên quan đến quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông liên tỉnh, cấp phép khai thác – sử dụng nguồn nước, thăm dò nước dưới đất và cơ chế tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Nghị định số 53/2024/NĐ-CP quy định cụ thể nhiều nội dung trong quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước. Ảnh minh họa: Dương Xuân Bình
Thực tiễn mới, mục tiêu mới
Luật Tài nguyên nước năm 2023 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2024) đặt ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình quản lý tài nguyên nước theo hướng tổng hợp, liên ngành, liên vùng và thích ứng với biến đổi khí hậu. Để bảo đảm tính thống nhất và khả thi trong tổ chức thực hiện Luật, Chính phủ đã ban hành một loạt nghị định hướng dẫn, trong đó có Nghị định số 53/2024/NĐ-CP và Nghị định số 54/2024/NĐ-CP.
Sau hơn một năm triển khai, thực tiễn quản lý cho thấy một số quy định cần tiếp tục được làm rõ, điều chỉnh và bổ sung. Trong bối cảnh đó, Nghị định 23/2026/NĐ-CP được ban hành với mục tiêu: Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông liên tỉnh; Nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm xã hội trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Chuẩn hóa điều kiện kỹ thuật và cơ chế kinh tế trong quản lý tài nguyên nước.
Theo đó, Nghị định tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày 16/5/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước. Cụ thể, Nghị định quy định chi tiết Điều 7, khoản 5 Điều 9, Điều 10, khoản 5 Điều 17, Điều 19, khoản 9 Điều 23, Điều 30, khoản 5 Điều 31, Điều 35, khoản 3 Điều 37, khoản 10 Điều 38, khoản 3 Điều 51, khoản 10 Điều 63, khoản 6 Điều 66, khoản 5 Điều 71, khoản 5 Điều 81 của Luật Tài nguyên nước.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định chi tiết khoản 3 Điều 31, Điều 52, khoản 4 Điều 53, khoản 6 Điều 69 và Điều 70 của Luật Tài nguyên nước về việc cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; việc kê khai, đăng ký, cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; việc nộp, miễn, giảm tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; dịch vụ về tài nguyên nước.
Bổ sung quy định về quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh
Một điểm mới quan trọng của Nghị định 23/2026/NĐ-CP là việc bổ sung Điều 10a vào Nghị định số 53/2024/NĐ-CP, quy định cụ thể nội dung quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước và hạ tầng thủy lợi lưu vực sông liên tỉnh.
Theo đó, quy hoạch không chỉ dừng ở phân bổ nguồn nước mà còn bao gồm: Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước, nhu cầu khai thác – sử dụng; Phân tích rủi ro liên quan đến nước (hạn hán, ngập lụt, suy thoái, ô nhiễm, xâm nhập mặn); Định hướng điều hòa, phân phối và bảo vệ nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Quy hoạch theo lưu vực sông liên tỉnh tạo nền tảng pháp lý quan trọng để các hệ thống cấp nước đô thị và khu công nghiệp được xem xét trong tổng thể cân bằng nguồn nước, giảm xung đột khai thác giữa các địa phương.
Nghị định 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư trong quá trình cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, đặc biệt đối với các công trình có quy mô lớn hoặc nguy cơ tác động đến sinh kế, môi trường và cấp nước sinh hoạt. Quy định này thể hiện rõ quan điểm quản lý tài nguyên nước dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch và có sự tham gia của xã hội, phù hợp với xu hướng quản trị nước hiện đại. Đối với doanh nghiệp cấp nước, đây vừa là yêu cầu tuân thủ, vừa là cơ hội tăng cường đồng thuận xã hội trong đầu tư phát triển hạ tầng.
Điều chỉnh điều kiện hành nghề khoan nước dưới đất
Nghị định sửa đổi một số điều của Nghị định số 54/2024/NĐ-CP, theo hướng chuẩn hóa điều kiện về năng lực chuyên môn, nhân sự và thiết bị của tổ chức, cá nhân hành nghề khoan nước dưới đất; Đồng thời làm rõ thủ tục cấp lại, điều chỉnh giấy phép khi có thay đổi về điều kiện hành nghề.
Việc cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất phải dựa trên căn cứ sau đây:
Thứ nhất là quy hoạch về tài nguyên nước (chức năng nguồn nước; giới hạn khai thác đối với từng sông, đoạn sông; ngưỡng giới hạn khai thác tầng chứa nước; bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước); quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch chi tiết ngành có nội dung khai thác, sử dụng tài nguyên nước; quy định vùng cấm, hạn chế khai thác nước dưới đất; trường hợp chưa có các quy hoạch hoặc quy hoạch chưa quy định cụ thể, chưa ban hành vùng cấm, hạn chế khai thác nước dưới đất hoặc phải giải quyết nhu cầu cấp bách trong việc cấp nước sinh hoạt cho nhân dân thì phải căn cứ vào khả năng đáp ứng của nguồn nước và tính cấp thiết về nhu cầu khai thác, sử dụng nước.
Thứ hai là hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong vùng; quy định bảo vệ, điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra.
Thứ ba là kết quả thẩm định của cấp có thẩm quyền về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất.
Thứ tư là nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước thể hiện trong văn bản đề nghị cấp giấy phép.
Nghị định nêu rõ trường hợp cấp giấy phép khai thác nước dưới đất, giấy phép thăm dò nước dưới đất còn phải căn cứ vào quy định tại Điều 30 và khoản 4 Điều 31 của Luật Tài nguyên nước.
Việc siết chặt điều kiện hành nghề góp phần hạn chế khai thác nước dưới đất tự phát, thiếu kiểm soát – một trong những nguyên nhân gây sụt lún, suy giảm mực nước ngầm tại nhiều đô thị hiện nay.
Điều chỉnh các quy định về thời hạn cấp phép khai thác tài nguyên nước

Giấy phép khai thác nước mặt có thời hạn tối đa 10 năm, tối thiểu 05 năm. Ảnh minh họa: Nguyễn Linh Vinh Quốc
Giấy phép khai thác nước mặt có thời hạn tối đa 10 năm, tối thiểu 05 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 05 năm;
Giấy phép khai thác nước biển có thời hạn tối đa 15 năm, tối thiểu 10 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 10 năm;
Giấy phép khai thác nước dưới đất có thời hạn tối đa 05 năm, tối thiểu 03 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 03 năm;
Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép với thời hạn ngắn hơn thời hạn tối thiểu quy định tại a, b và c ở trên thì giấy phép được cấp theo thời hạn đề nghị trong văn bản đề nghị cấp phép và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối đa không quá thời hạn giấy phép đã được cấp, gia hạn liền trước đó.
Nghị định quy định Giấy phép thăm dò nước dưới đất có thời hạn 02 năm và được xem xét gia hạn một lần, thời gian gia hạn không quá 01 năm. Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp, gia hạn giấy phép với thời hạn ngắn hơn thì giấy phép được cấp, gia hạn theo thời hạn đề nghị trong văn bản đề nghị cấp phép.
Việc gia hạn giấy phép thăm dò nước dưới đất, giấy phép khai thác tài nguyên nước phải căn cứ vào: Hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép phải nộp trước thời điểm giấy phép hết hiệu lực ít nhất 45 ngày; Đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị gia hạn, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép đã hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định của pháp luật và không có tranh chấp.
Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp tục khai thác tài nguyên nước nhưng không nộp hồ sơ đề nghị gia hạn đúng thời gian quy định ở trên thì tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép mới.
Nghị định 23/2026/NĐ-CP là bước điều chỉnh cần thiết trong công tác hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên nước theo tinh thần của Luật Tài nguyên nước 2023. Đối với ngành Cấp Thoát nước, Nghị định đặt ra các yêu cầu tuân thủ pháp lý, đặc biệt trong lập quy hoạch, xin cấp phép và thực hiện nghĩa vụ tài chính về tài nguyên nước, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc bảo vệ nguồn nước cấp, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh khai thác ngày càng gia tăng.
Vy Anh







