Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt

Đó là điều PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương – Phó Giám đốc Học viện Chiến lược, Bồi dưỡng cán bộ Xây dựng, Tổng Biên tập Tạp chí Xây dựng và đô thị nhấn mạnh trong phần trình bày về nghiên cứu của mình tại buổi Hội thảo khoa học – thực tiễn về “Đô thị miền núi thích ứng với biến đổi hí hậu cực đoan” diễn ra tại tỉnh Cao Bằng vừa qua. 

Từ “thoát nhanh” sang “sống cùng nước”

Trong các đô thị miền núi, ngập lụt không chỉ xuất phát từ năng lực tiêu thoát của hệ thống cống, mương hay kênh dẫn. Rủi ro ngập lụt thường hình thành từ sự kết hợp giữa địa hình dốc, lưu vực hẹp, dòng chảy tập trung nhanh và quá trình phát triển đô thị dọc theo sông, suối. Vì vậy, nếu chỉ xử lý ngập bằng cách gia cố kè, mở rộng cống hoặc tăng khả năng thoát nước cục bộ, đô thị sẽ khó tạo được năng lực thích ứng lâu dài trước các hiện tượng mưa cực đoan.

Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt - Ảnh 1.

PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương trình bày về nghiên cứu của mình tại hội thảo diễn ra tại Cao Bằng ngày 17/4 vừa qua.

Từ trường hợp của tỉnh Cao Bằng, nghiên cứu của PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương về mô hình lãnh thổ thông minh “sống cùng nước” cho hệ thống đô thị miền núi thích ứng với khí hậu cực đoan đã gợi mở một cách tiếp cận rộng hơn. Theo nghiên cứu, Cao Bằng có địa hình đá vôi Karst bị chia cắt mạnh, nhiều thung lũng hẹp, sông suối dày đặc, khiến dòng chảy khi mưa lớn thường tập trung nhanh và làm tăng nguy cơ lũ, ngập ở các đô thị ven sông, ven suối. Hệ thống đô thị của tỉnh lại phát triển chủ yếu dọc theo các lưu vực sông như sông Bằng Giang, sông Gâm, sông Quây Sơn. Đây là điều kiện khiến rủi ro lũ, ngập không còn được xem xét trong phạm vi từng điểm ngập riêng lẻ, mà phải được nhìn ở quy mô toàn lưu vực.

Trong thời gian dài, nhiều đô thị vẫn quen với cách tiếp cận “thoát nhanh”, tức là tập trung đưa nước ra khỏi khu vực dân cư bằng hệ thống cống, kênh, mương, trạm bơm và các công trình kè bảo vệ. Cách làm này cần thiết trong vận hành đô thị, nhưng không còn đủ hiệu quả khi mưa lớn vượt ngưỡng thiết kế, còn không gian tự nhiên để thấm, trữ và điều tiết nước ngày càng bị thu hẹp.

Theo PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương, với những đô thị phát triển trong thung lũng sông như Cao Bằng, cần chuyển từ tư duy “kiểm soát nước” sang “sống cùng nước”. Đây không phải là chấp nhận ngập một cách bị động, mà là tổ chức lại không gian đô thị để nước có nơi đi qua, nơi tạm trữ, nơi thấm xuống và nơi thoát an toàn. Nói cách khác, nước phải được tính đến từ khâu quy hoạch, chứ không chỉ được xử lý khi đã trở thành áp lực lên hệ thống thoát nước.

Cách tiếp cận này đòi hỏi đô thị miền núi phải bảo vệ hành lang thoát lũ, giữ lại các vùng trũng có chức năng điều tiết, hạn chế phát triển dày đặc tại khu vực rủi ro cao và tăng các không gian trữ nước trong đô thị. Cùng với đó, hệ thống hạ tầng cần được thiết kế theo nguyên lý giữ, thấm, trữ, làm chậm và xả nước, thay vì chỉ tập trung vào tiêu thoát nhanh.

Đây là điểm khác biệt quan trọng: nếu chỉ mở rộng cống hoặc kè cứng lòng sông, đô thị có thể giải quyết được một số điểm ngập trước mắt nhưng lại làm giảm khả năng điều tiết tự nhiên của lưu vực. Khi các bãi trữ nước ven sông bị thu hẹp, vùng trũng bị san lấp, bề mặt thấm nước giảm và dòng chảy bị dồn nhanh về hạ lưu, nguy cơ ngập lụt có thể chuyển từ nơi này sang nơi khác, thậm chí nghiêm trọng hơn trong các trận mưa lớn.

Quy hoạch phải đi trước, dữ liệu là nền tảng của quản trị rủi ro

Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt - Ảnh 2.

Khung quản trị 4 tầng trong nghiên cứu của PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương đề xuất tại hội thảo diễn ra tại Cao Bằng vừa qua.

Theo nghiên cứu của PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương đã đề xuất khung quản trị lãnh thổ thông minh gồm bốn tầng: không gian quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, dữ liệu công nghệ và thể chế quản trị. Bốn tầng này không tách rời nhau, mà phải vận hành như một hệ thống thống nhất.

Ở tầng không gian quy hoạch, yêu cầu quan trọng nhất là tổ chức phát triển đô thị theo rủi ro lưu vực. Điều này có nghĩa là các bản đồ nguy cơ lũ, ngập, sạt lở, bùn đất và bồi lấp cần được tích hợp vào quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và các chương trình phát triển hạ tầng. Những khu vực ven sông, vùng trũng, hành lang thoát lũ, cửa xả tự nhiên không nên chỉ được nhìn như quỹ đất có thể khai thác, mà phải được xem là một phần của hệ thống an toàn đô thị.

Ở tầng hạ tầng kỹ thuật, công trình cứng vẫn có vai trò quan trọng, nhưng cần được đặt trong một hệ thống thích ứng rộng hơn. Cống, kênh, mương, kè và tuyến tiêu thoát phải đi cùng với hồ điều hòa, không gian trữ nước, công viên ngập tạm, vùng đệm ven sông, phục hồi rừng đầu nguồn và các giải pháp thoát nước bền vững. Với đô thị miền núi, nếu thiếu các giải pháp làm chậm dòng chảy và giảm áp lực từ thượng nguồn, hạ tầng tiêu thoát ở khu vực đô thị rất dễ bị quá tải.

Nói cách khác, thoát nước đô thị không thể chỉ bắt đầu từ nơi nước gây ngập. Việc quản lý phải bắt đầu từ nơi nước hình thành dòng chảy, đi qua các sườn dốc, khe suối, vùng trũng, lòng dẫn rồi mới đến khu dân cư. Chỉ khi nhìn đầy đủ chuỗi đó, đô thị mới có thể xác định đúng điểm cần giữ nước, điểm cần trữ nước, điểm cần cải tạo hạ tầng và điểm cần hạn chế phát triển xây dựng.

Một nội dung có giá trị thực tiễn trong nghiên cứu là yêu cầu xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ quản trị rủi ro. Trong bối cảnh mưa cực đoan, việc vận hành đô thị không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hoặc xử lý sau khi sự cố đã xảy ra. Cần có dữ liệu khí tượng thủy văn, bản đồ địa hình, hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng hạ tầng thoát nước, mô hình ngập và hệ thống cảnh báo sớm.

Đối với tỉnh Cao Bằng, nghiên cứu đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu mưa cực đoan, đường cong cường độ, thời đoạn, tần suất mưa địa phương, mô hình ngập hai chiều cho các đô thị thung lũng, mạng quan trắc lũ quét và nền tảng GIS phục vụ quản lý không gian, hạ tầng. Những nội dung này cho thấy dữ liệu không còn là phần phụ trợ, mà trở thành một loại “hạ tầng mềm” của đô thị.

Khi có dữ liệu tốt, chính quyền và đơn vị vận hành có thể xác định rõ khu vực rủi ro, dự báo điểm dễ ngập, ưu tiên đầu tư đúng nơi, đồng thời điều phối vận hành khi xuất hiện mưa lớn. Ngược lại, nếu dữ liệu phân tán, thiếu cập nhật hoặc không được chia sẻ giữa các ngành, công tác quản lý ngập lụt vẫn dễ rơi vào thế bị động.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu mới cho ngành Cấp Thoát nước. Chuyển đổi số trong lĩnh vực thoát nước không chỉ là lắp đặt thiết bị quan trắc hay xây dựng phần mềm quản lý. Quan trọng hơn là hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối giữa quy hoạch, xây dựng, tài nguyên nước, môi trường, phòng chống thiên tai và vận hành hạ tầng. Khi dữ liệu được liên thông, các quyết định đầu tư và vận hành mới có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn.

Một hạn chế phổ biến trong quản lý ngập lụt hiện nay là cách tiếp cận theo địa giới hành chính. Trong khi đó, nước lại vận động theo lưu vực. Dòng chảy từ thượng nguồn, trung lưu đến hạ lưu không dừng lại ở ranh giới của một phường, xã hay một khu đô thị. Vì vậy, nếu mỗi địa bàn chỉ xử lý phần việc trong phạm vi của mình, việc điều phối tổng thể sẽ rất khó hiệu quả.

Theo PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương, quản lý nước đô thị tại Cao Bằng cần được tổ chức theo quy mô lưu vực, đồng thời tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, chia sẻ dữ liệu, ưu tiên đầu tư và giám sát thực thi. Đây là tầng thể chế trong mô hình “sống cùng nước”, có vai trò bảo đảm cho các giải pháp quy hoạch, hạ tầng và dữ liệu không bị tách rời.

Với đô thị miền núi, cơ chế điều phối này càng quan trọng. Một thay đổi sử dụng đất ở thượng nguồn có thể làm tăng dòng chảy mặt về hạ lưu. Một điểm nghẽn thoát nước ở khu vực trung lưu có thể làm gia tăng ngập tại đô thị phía dưới. Một tuyến kè hoặc công trình xây dựng ven sông nếu thiếu tính toán lưu vực cũng có thể làm thay đổi hướng dòng chảy. Do đó, quản trị ngập lụt không thể chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành thoát nước, mà cần sự tham gia đồng bộ của quy hoạch, xây dựng, nông nghiệp, môi trường, tài nguyên nước và phòng chống thiên tai.

Gợi mở cho các đô thị miền núi Việt Nam

Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt - Ảnh 3.

Vai trò của ngành Cấp Thoát nước cần được mở rộng hơn trong quá trình phát triển đô thị miền núi. (Ảnh minh họa)

Cao Bằng là một trường hợp cụ thể, nhưng vấn đề đặt ra không chỉ dành riêng cho Cao Bằng. Nhiều đô thị miền núi Việt Nam cũng đang phát triển trong điều kiện tương tự: quỹ đất bằng hạn chế, khu dân cư bám theo thung lũng sông, áp lực mở rộng đô thị tăng, trong khi mưa cực đoan, lũ quét và sạt lở có xu hướng phức tạp hơn.

Từ góc nhìn của ngành Cấp Thoát nước, nghiên cứu của PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương gợi mở thông điệp rõ ràng: không thể chống ngập đô thị miền núi chỉ bằng cống lớn hơn, kè cao hơn hay tiêu thoát nhanh hơn. Hạ tầng kỹ thuật là cần thiết, nhưng chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một cấu trúc phát triển hợp lý, có không gian dành cho nước, có dữ liệu cảnh báo và có cơ chế điều phối theo lưu vực.

Điều này cũng cho thấy vai trò của ngành Cấp Thoát nước cần được mở rộng hơn trong quá trình phát triển đô thị. Ngành không chỉ vận hành hệ thống sau khi đô thị đã hình thành, mà cần tham gia sớm vào quy hoạch, đánh giá rủi ro, xác định hành lang thoát nước, đề xuất không gian trữ nước và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ vận hành dài hạn.

Trong bối cảnh khí hậu cực đoan ngày càng rõ rệt, an toàn thoát nước đô thị không còn là vấn đề kỹ thuật đơn thuần. Đó là năng lực quản trị phát triển. Một đô thị miền núi muốn chống chịu tốt phải biết phát triển theo địa hình, theo lưu vực và theo quy luật vận động của nước. “Sống cùng nước”, vì vậy, không phải là một khẩu hiệu mềm, mà là một yêu cầu thực tế để đô thị miền núi thích ứng an toàn hơn với khí hậu cực đoan và với úng ngập trong tương lai.

An Nhiên

Các bài viết liên quan