Biến nước thải đô thị thành tài nguyên cho nông nghiệp

Phát biểu khai mạc, PGS.TS Trần Thị Mỹ Diệu, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang (VLU) cho biết, Hội thảo InnovaConnect được tổ chức trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu và khan hiếm tài nguyên đã đặt ra nhiều thách thức cho phát triển đô thị và nông nghiệp bền vững. Hội thảo sẽ kết nối các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng học thuật nhằm trao đổi giải pháp quản lý nước đô thị, tái sử dụng nước thải, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và mở rộng hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.

Biến nước thải đô thị thành tài nguyên cho nông nghiệp- Ảnh 1.

VLU và Quỹ VinFuture đã tạo nên một sự kiện có ý nghĩa cho môi trường nói chung và môi trường Việt Nam nói riêng.

Đồng quan điểm với lãnh đạo Đại học Văn Lang, TS. Lê Thái Hà, Giám đốc Điều hành Quỹ VinFuture(thuộc Tập đoàn Vingroup) khẳng định, việc tổ chức hội thảo vào Ngày Môi trường Thế giới có ý nghĩa đặc biệt khi các đô thị đang chịu sức ép từ biến đổi khí hậu, nhu cầu nước gia tăng và yêu cầu bảo đảm hệ thống thực phẩm an toàn, bền vững. Theo TS. Hà, nước thải đô thị cần được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên có thể thu hồi nước, chất dinh dưỡng và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Để các ý tưởng khoa học đi vào thực tế, cần sự kết hợp giữa công nghệ, quy hoạch đô thị, nông nghiệp, chính sách, quản trị và sự tham gia của cộng đồng.

Biến nước thải đô thị thành tài nguyên cho nông nghiệp- Ảnh 2.

TS. Lê Thái Hà – Giám đốc Điều hành Quỹ VinFuture phát biểu tại hội thảo. (ảnh VLU)

Tham luận đầu tiên do GS. Adriaan Mels, đến từ Trường Đại học Wageningen and Research, Hà Lan, cho biết: Hà Lan là quốc gia đồng bằng thấp, nhiều khu vực nằm dưới mực nước biển, có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về thách thức nước, đặc biệt là chống lũ, quản lý nước ngọt và xử lý nước thải. Từ kinh nghiệm của Hà Lan, ông cho rằng các giải pháp dựa vào thiên nhiên ngày càng được nhìn nhận như một hướng bổ sung quan trọng cho hạ tầng kỹ thuật truyền thống.

Biến nước thải đô thị thành tài nguyên cho nông nghiệp- Ảnh 3.

GS. Adriaan Melscho rằng các giải pháp dựa vào thiên nhiên ngày càng được nhìn nhận như một hướng bổ sung quan trọng cho hạ tầng kỹ thuật truyền thống.

GS. Adriaan Mels nêu một số ví dụ như quản lý đụn cát ven biển để tăng khả năng bảo vệ chống lũ, bổ cập nước ngầm có kiểm soát để dự trữ nước uống, đất ngập nước nhân tạo cho xử lý nước thải, hạ tầng xanh – xanh lam trong đô thị để tăng thấm nước, giảm ngập, giảm nhiệt và tạo thêm không gian sinh thái. Theo GS. Adriaan Mels, điểm đáng chú ý của các giải pháp này là tính đa lợi ích, vừa phục vụ mục tiêu kỹ thuật, vừa cải thiện cảnh quan, đa dạng sinh học, không gian giải trí và khả năng chống chịu của đô thị.

Ở góc độ nghiên cứu, nhóm của GS. Adriaan Mels đang phát triển các mô hình lưu trữ nước dưới đất, nghiên cứu khả năng giữ lại và phân hủy các vi chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, quy hoạch hạ tầng xanh – xanh lam đa chức năng trong đô thị và tái sử dụng nước sau xử lý cho nông nghiệp. Ông cũng dẫn ví dụ tại vùng tây nam Hà Lan, nơi một doanh nghiệp chế biến rau sử dụng nước uống trong sản xuất, xử lý nước thải rồi xả ra nguồn nước mặn. Từ đó, nhóm nghiên cứu xem xét khả năng tận dụng khoảng 600m3 nước ngọt sau xử lý để tưới tiêu cho nông nghiệp trong mùa khô.

Tham luận thứ hai do GS. Simon Bush, đến từ Đại học Wageningen and Research (Hà Lan), đã trình bày về các khía cạnh xã hội và chính sách trong thương mại hóa sản phẩm tái chế, tái sử dụng từ nước thải.

GS. Simon Bush cho rằng tái sử dụng nước không chỉ là câu chuyện công nghệ. Quan trọng, xã hội, chính sách và quản trị mới quyết định việc công nghệ đó có được sử dụng đúng cách và mở rộng trong thực tế hay không. GS. Simon Bush cho biết, các thách thức như biến động khí hậu, nhu cầu nước đô thị tăng, thiếu nước ở nông thôn, xâm nhập mặn và hạ tầng già cỗi đang đặt ra yêu cầu phải suy nghĩ lại về toàn bộ hệ thống nước.

Một trong những nội dung được GS. Simon Bush nhấn mạnh là sự phân mảnh chính sách. Trong thực tế, nước, nông nghiệp, quy hoạch đô thị, thực phẩm và năng lượng thường được quản lý như các lĩnh vực riêng biệt. Tuy nhiên, khi đặt trong bài toán tái sử dụng nước, các lĩnh vực này lại gắn chặt với nhau. Nếu nước thải sau xử lý được dùng cho nông nghiệp, câu chuyện không chỉ thuộc ngành Nước mà còn liên quan đến an toàn thực phẩm, quy chuẩn chất lượng, chấp nhận xã hội, mô hình kinh doanh và vai trò của các doanh nghiệp dịch vụ công ích.

Theo GS. Simon Bush, cần tiếp cận tái sử dụng nước như một hệ thống xã hội và kỹ thuật. Điều đó có nghĩa là các giải pháp phải được thiết kế không chỉ quanh nhà máy xử lý hay đường ống, mà còn phụ thuộc hành vi hằng ngày của người dân, cách xã hội sử dụng nước, cách doanh nghiệp tham gia và cách chính sách tạo không gian thử nghiệm.

Tham luận thứ ba do TS. Nguyễn Đăng Khoa, Khoa Môi trường (VLU) trình bày các giải pháp dựa vào tự nhiên và đất ngập nước nhân tạo kết hợp với hệ quang xúc tác, từ đó tạo ra dung dịch dinh dưỡng có thể ứng dụng cho mô hình thủy canh hoặc nông nghiệp đô thị quy mô nhỏ.

Biến nước thải đô thị thành tài nguyên cho nông nghiệp- Ảnh 4.

Sự thay đổi có thành công hay không còn phụ thuộc vào sự chấp nhận của cộng đồng.

Theo TS. Nguyễn Đăng Khoa, trong bối cảnh nhiều người dân đô thị sống trong căn hộ, chung cư, thiếu không gian canh tác và quan tâm hơn đến chất lượng thực phẩm, việc tận dụng dung dịch dinh dưỡng từ nước thải sau xử lý có thể mở ra hướng tiếp cận mới cho các mô hình vườn ban công, thủy canh và sản xuất rau tại chỗ. Tuy nhiên, TS. Khoa cũng nhấn mạnh, các giải pháp này không chỉ dừng ở kỹ thuật xử lý mà còn cần đánh giá sự chấp nhận của cộng đồng, nhu cầu của người dùng cuối, khung chính sách và khả năng thương mại hóa sản phẩm tái chế.

Trong phiên thảo luận, các câu hỏi tập trung vào việc lựa chọn giữa giải pháp dựa vào thiên nhiên và hệ thống xử lý kỹ thuật truyền thống, mô hình kinh doanh của sản phẩm thu hồi từ nước thải, tính ổn định của chất lượng nước đầu vào, cơ chế chính sách thúc đẩy thương mại hóa và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm tái sử dụng.

GS. Adriaan Mels cho rằng thực hành kỹ thuật lâu nay thường ưu tiên hạ tầng xám, trong khi việc kết hợp hạ tầng xám với hạ tầng xanh vẫn đang trong quá trình học hỏi, thử nghiệm và phát triển tiêu chí thiết kế. Theo ông, đô thị hóa nhanh đang tạo nhu cầu lớn đối với các cách tiếp cận mới, trong đó các mô hình hỗ trợ ra quyết định sẽ giúp lựa chọn và mở rộng giải pháp phù hợp hơn.

Về khả năng thương mại hóa sản phẩm từ nước thải, GS. Simon Bush cho rằng không có một công cụ quản trị duy nhất có thể giải quyết toàn bộ vấn đề. Cần có tầm nhìn dài hạn, đầu tư của khu vực tư nhân, không gian thử nghiệm chính sách, tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng và quá trình giáo dục cộng đồng. Niềm tin xã hội đối với sản phẩm tái sử dụng phải được xây dựng thông qua tiêu chuẩn, cơ chế kiểm chứng và sự minh bạch trong tuân thủ.

Kết thúc chương trình, các bên tiến hành Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Khoa Môi trường, VLU với các nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Wageningen and Research. Hoạt động này được kỳ vọng tạo thêm nền tảng cho hợp tác đào tạo, nghiên cứu chung, trao đổi học thuật, công bố khoa học và phát triển các giải pháp môi trường phục vụ phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn và khả năng chống chịu khí hậu.

Mai Thanh

Các bài viết liên quan