TP.HCM đưa thêm nguồn thải vào tầm giám sát
Phát biểu khai mạc, Chủ tịch HĐND TP.HCM Nguyễn Văn Minh cho biết: Kỳ họp thứ Năm HĐND TP.HCM khóa XI diễn ra trong thời điểm Thành phố đang khẩn trương chuẩn bị triển khai Luật Phát triển đô thị, có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Kỳ họp này, HĐND Thành phố xem xét 38 nội dung, gồm 29 dự thảo nghị quyết quy phạm pháp luật và 9 dự thảo nghị quyết cá biệt. Trong đó, 24 dự thảo nghị quyết nhằm cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Luật Phát triển đô thị.

Trong 24 dự thảo Nghị quyết nhằm cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Luật Phát triển đô thị được HĐND TP.HCM xem xét có vấn đề về xả thải ra môi trường.
Luật tạo khuôn khổ pháp lý mới, trao cho TP.HCM thêm thẩm quyền để chủ động giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển đô thị. Các Nghị quyết được đưa ra tại kỳ họp lần này trải rộng từ quy hoạch, không gian ngầm, phát triển hạ tầng đến tài nguyên, môi trường và các lĩnh vực thiết yếu khác.
Trong nhóm này, Tờ trình số 1223/TTr-UBND của UBND TP.HCM trình dự thảo Nghị quyết quy định đối tượng, mức lưu lượng xả nước thải, bụi, khí thải công nghiệp phải áp dụng quan trắc tự động, liên tục. Đây là nội dung nhằm thực hiện điểm a khoản 4 Điều 42 Luật Phát triển đô thị, cụ thể hóa thẩm quyền của Thành phố trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ môi trường nghiêm ngặt hơn so với quy định chung.
Đề xuất được đặt ra trong bối cảnh áp lực lên môi trường đô thị ngày càng lớn. Tờ trình cho biết các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất và cơ sở sản xuất tập trung với mật độ cao, trong đó có nhiều nguồn thải nằm xen trong khu dân cư hoặc dọc các lưu vực sông, kênh, rạch.
Một số cơ sở sản xuất giấy, dệt nhuộm, mạ kim loại, xi măng, gang thép, hóa chất, tái chế chất thải nguy hại có lưu lượng xả thải chưa đến ngưỡng phải quan trắc tự động theo quy định chung nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nếu không được giám sát thường xuyên. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật môi trường cũng chịu áp lực khi lượng nước thải và các chất ô nhiễm tiếp tục gia tăng.
Yêu cầu giám sát càng đặt ra rõ hơn sau khi phạm vi quản lý của TP.HCM được mở rộng. Số cơ sở thuộc diện quản lý môi trường tăng đáng kể, trong khi nhân lực, phương tiện kiểm tra và giám sát thực tế chưa tăng tương ứng. Vì vậy, Thành phố xác định quan trắc tự động, liên tục là công cụ để theo dõi nguồn thải thường xuyên, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường và giảm phụ thuộc vào kiểm tra trực tiếp.
Theo Tờ trình, TP.HCM đang hướng tới kiểm soát 100% nguồn thải công nghiệp lớn và vừa trong giai đoạn 2026 – 2030. Việc tăng cường quan trắc còn nhằm bảo vệ nguồn nước mặt, nhất là nguồn nước có chức năng cấp nước sinh hoạt, đồng thời hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ cảnh báo sớm và kiểm soát ô nhiễm tại nguồn.
Hạ ngưỡng quan trắc, lộ trình đến cuối năm 2028
Điểm đáng chú ý của dự thảo là TP.HCM đề xuất hạ ngưỡng lưu lượng nước thải phải quan trắc tự động, liên tục xuống bằng 0,8 lần mức quy định hiện hành.

Tờ trình số 1223 tập trung vào những nguồn thải có nguy cơ ô nhiễm hoặc lưu lượng lớn tại TP.HCM.
Theo đó, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu kinh tế và các dự án, cơ sở thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường sẽ phải quan trắc tự động khi có lưu lượng từ 400 m³/ngày đêm trở lên, thay cho mức 500 m³/ngày đêm.
Đối với dự án, cơ sở không thuộc nhóm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ngưỡng áp dụng được đề xuất từ 800 m³/ngày đêm trở lên, thay cho mức 1.000 m³/ngày đêm.
Lưu lượng dùng để xác định đối tượng phải quan trắc được tính theo tổng công suất thiết kế của tất cả công trình, thiết bị xả nước thải ra môi trường ghi trong giấy phép môi trường. Các thông số phải theo dõi gồm lưu lượng đầu vào và đầu ra, pH, nhiệt độ, TSS, COD hoặc TOC và Amoni.
Tờ trình số 1223 không đặt yêu cầu này đối với tất cả cơ sở mà tập trung vào những nguồn thải có nguy cơ ô nhiễm hoặc lưu lượng lớn. Theo UBND Thành phố, cách tiếp cận này nhằm tăng khả năng kiểm soát nhưng hạn chế tác động đến cơ sở quy mô nhỏ, ít phát sinh chất thải hoặc có nguy cơ ô nhiễm thấp.
Với các dự án, cơ sở đang hoạt động trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực và thuộc diện áp dụng, thời hạn hoàn thành lắp đặt, đưa hệ thống quan trắc vào vận hành, kết nối và truyền dữ liệu là chậm nhất ngày 31/12/2028. Các công trình, thiết bị đưa vào vận hành sau khi Nghị quyết có hiệu lực phải hoàn thành hệ thống quan trắc và kết nối dữ liệu trước khi đi vào hoạt động.
Dữ liệu sau đó sẽ được Thành phố tiếp nhận, kết nối, khai thác và sử dụng trong quản lý môi trường; đồng thời phục vụ phối hợp, chia sẻ dữ liệu với các địa phương thuộc vùng đô thị đặc biệt.
Tờ trình cũng nhìn nhận việc thực hiện yêu cầu mới có thể làm tăng chi phí đầu tư, lắp đặt, hiệu chuẩn, kiểm định và vận hành hệ thống của doanh nghiệp. Lộ trình đến cuối năm 2028 được đưa ra để các cơ sở có thời gian chuẩn bị nguồn lực. Thành phố đồng thời nghiên cứu cơ chế hỗ trợ tài chính thông qua Quỹ Bảo vệ môi trường Thành phố và hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình triển khai.
Cùng với kiểm soát xả thải, dự thảo hướng tới thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ xử lý, sản xuất sạch hơn, tuần hoàn và tái sử dụng nước. Qua đó, cơ chế được đề xuất tại kỳ họp không chỉ mở rộng phạm vi quan trắc mà còn hướng đến quản lý nguồn thải bằng dữ liệu, cảnh báo sớm và giảm nguy cơ ô nhiễm đối với hệ thống sông, kênh, rạch và nguồn nước phục vụ đời sống đô thị.
Phát biểu tại kỳ họp, Bí thư Thành ủy TP.HCM Trần Lưu Quang đề nghị các Nghị quyết cụ thể hóa Luật Phát triển đô thị phải đi vào thực chất, giải quyết được những điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và xác định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện. Mỗi chính sách sau khi ban hành cần gắn với sản phẩm, kết quả cụ thể, có thể đo lường và tạo ra thay đổi mà người dân, doanh nghiệp cảm nhận được; đồng thời tăng cường giám sát, gắn phân cấp, phân quyền với trách nhiệm giải trình.
Mai Thanh








