Phục hồi dòng sông đô thị phải bắt đầu từ đường đi của nước thải

Mới đây, tại Hội thảo “An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Niño và biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông”, do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức, các chuyên gia đã bàn về áp lực nước thải đô thị lên sông, kênh rạch TP.HCM.

Nước thải bị bỏ lại phía sau đô thị

Đô thị hóa thường được nhìn thấy qua đại lộ mới, khu dân cư mở rộng và những tuyến bờ kè được chỉnh trang. Thế nhưng, đường đi của nước thải ít khi được đặt ở vị trí tương xứng. Nước thải phát sinh mỗi ngày, nếu mạng lưới thu gom và công trình xử lý không theo kịp tốc độ xây dựng, áp lực sẽ dồn xuống sông, kênh rạch.

Phục hồi dòng sông đô thị phải bắt đầu từ đường đi của nước thải- Ảnh 1.

Đô thị phát triển nhưng hệ thống xử lý nước thải không được đầu tư đồng bộ thì sẽ gây áp lực cho các dòng kênh, dòng sông.

Với TP.HCM và vùng Đông Nam Bộ, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai có vai trò đối với cấp nước, sản xuất, giao thông, môi trường và phát triển đô thị. Sông, kênh còn điều hòa nước, tạo không gian sinh thái, gắn với lịch sử, văn hóa và sinh kế cộng đồng. Khi chất lượng nước suy giảm, tác động lan đến an ninh nguồn nước, hệ sinh thái và khả năng phát triển của đô thị.

Ông Nguyễn Viết Vũ, Trưởng phòng Tài nguyên nước, Khoáng sản và Biển đảo (Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM) đã phân loại nguồn nước thải thành nước thải từ cơ sở sản xuất, y tế và sinh hoạt đô thị. Theo ông Vũ: Tại TP. HCM, nguồn nước thải từ các doanh nghiệp nằm trong khu công nghiệp, hiện nay đã có công cụ quản lý, kiểm soát và xử lý đạt 100%. Đối với ngành y tế, thành phố cũng đã yêu cầu các doanh nghiệp xử lý triệt để nước thải, đạt 100%. Phần gây áp lực lớn hiện nay là nước thải sinh hoạt phát sinh phân tán từ hộ dân, nhà hàng và hàng quán.

Sau khi thành phố hợp nhất, ông Vũ ước lượng lượng nước thải phát sinh mỗi ngày ở mức trên 3 triệu m³/ngày đêm, trong khi tỷ lệ thu gom mới khoảng 19,5%. Đây là tỷ lệ thu gom, không phải tỷ lệ nước thải đã được xử lý, khoảng cách ấy có nghĩa là phần lớn dòng thải sinh hoạt chưa đi vào một chuỗi thu gom tập trung trước khi ra sông, kênh rạch.

Nước thải đô thị không xuất phát từ một vài cửa xả lớn. Nó được tạo ra ở từng căn nhà, cơ sở dịch vụ, nhà hàng và khu dân cư. Để dòng thải đến được nhà máy, cần có tuyến cống nhánh, mạng lưới thu gom, cống bao dọc kênh rạch, trạm bơm và điểm đấu nối. Vậy, “mắt xích” nào còn thiếu để dòng nước thải có thể thoát ra môi trường trước khi đến công đoạn xử lý?

Một chuỗi đầu tư phải cùng về đích

Theo Kế hoạch số 477/KH-UBND, TP.HCM đặt mục tiêu đến năm 2030 thu gom và xử lý khoảng 80% lượng nước thải đô thị. Để thực hiện mục tiêu này, thành phố dự kiến triển khai 9 hệ thống thu gom dọc các tuyến sông, kênh và đầu tư đồng bộ 14 nhà máy xử lý nước thải. Tuy nhiên, các công trình vẫn cần được tính toán thống nhất theo lưu vực, tiến độ và kế hoạch vận hành.

Phục hồi dòng sông đô thị phải bắt đầu từ đường đi của nước thải- Ảnh 2.

Hàng nghìn căn nhà ven kênh Đôi (TP.HCM) sắp được di dời.

Theo ông Nguyễn Viết Vũ cho biết, TP.HCM cần ưu tiên hoàn thiện cống bao, trạm bơm, tuyến thu gom và các điểm đấu nối. Đồng thời triển khai nhà máy mới hoặc mở rộng nhà máy tại những lưu vực đã có công trình xử lý. Hạ tầng nước thải cần được lồng ghép với các công trình đường ven kênh, chống ngập và chỉnh trang kênh rạch để tránh đào đường nhiều lần. Những khu vực ô nhiễm nặng, đông dân cư và có khả năng đấu nối cần được ưu tiên thu gom. Ông Vũ cũng đề nghị quy hoạch vị trí nhà máy đồng bộ với mạng lưới thu gom, phù hợp khả năng tiếp nhận và sức chịu tải của sông, kênh.

Các kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè và Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên cho thấy đầu tư có thể lệch nhịp theo hai chiều. Như, tuyến kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên, nhà máy đã hoàn thành trong khi cống bao và mạng lưới thu gom chưa đồng bộ. Các dự án cần được quản lý theo toàn chuỗi, từ đấu nối đến vận hành sau xử lý.

Cũng theo ông Vũ, điểm nghẽn còn nằm ở vốn, đất và giải phóng mặt bằng. Nhà máy cần quỹ đất, mạng lưới xử lý nước thải đi qua khu dân cư, chỉnh trang kênh có thể kéo theo di dời người dân, phải bồi thường, tái định cư. Chi phí này có thể chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách dự án và có nguy cơ tiến độ dự án bị kéo dài.

Ông Vũ đề cập đến các hình thức huy động vốn ngoài ngân sách, hợp tác công tư và bố trí quỹ đất trong phương án đầu tư. Các cơ chế này cần gắn với trách nhiệm vận hành sau khi xây dựng. Cống, trạm bơm và nhà máy đều cần kinh phí duy tu, nếu chỉ lo vốn xây dựng, hiệu quả sẽ giảm sau nghiệm thu.

Không có một công thức chung cho mọi dòng sông

Thu gom nước thải là điều kiện tiên quyết, nhưng chưa đủ để phục hồi một dòng sông. Mỗi dòng có nguồn ô nhiễm, lưu lượng, chế độ dòng chảy và khả năng tự làm sạch khác nhau. PGS.TS Trần Đăng An, Phó trưởng Bộ môn Kỹ thuật Tài nguyên nước và Môi trường, Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi, cho rằng phải hiểu cơ chế ô nhiễm trước khi chọn giải pháp.

Phục hồi dòng sông đô thị phải bắt đầu từ đường đi của nước thải- Ảnh 3.

“Trước khi xử lý, phục hồi một dòng sông, chúng ta phải hiểu nguyên nhân ô nhiễm xuất phát từ cơ chế nào?”

Ông An lưu ý hiện tượng lục bình phát triển mạnh có thể là dấu hiệu ô nhiễm dinh dưỡng, trong đó có nguồn từ nước thải sinh hoạt. Muốn xác định mức độ tác động, cần so sánh tổng lượng nước thải với lượng nước trong dòng sông, đồng thời xem xét quá trình hòa trộn. Khi dòng chảy yếu và nước ít luân chuyển, tải lượng ô nhiễm có thể vượt khả năng tự làm sạch của hệ sinh thái.

“Trước khi xử lý, phục hồi một dòng sông, chúng ta phải hiểu nguyên nhân ô nhiễm xuất phát từ cơ chế nào. Cần nghiên cứu, điều tra bài bản, xác định nguyên nhân, cơ chế, từ đó mới quy hoạch và lựa chọn giải pháp xử lý”, ông An nhấn mạnh. Nạo vét hoặc chỉnh trang bờ kênh không thể thay cho việc chặn nguồn thải. Nếu nước thải tiếp tục đi vào sông, hiệu quả của công trình sẽ khó duy trì.

Bùn cặn tích tụ trong lòng dẫn cũng là phần không thể bỏ qua. Theo ông An, lớp trầm tích lâu năm có thể ảnh hưởng đến quá trình tự làm sạch và tiêu thụ lượng oxy trong nước, làm suy giảm điều kiện sống của sinh vật thủy sinh. Sau khi tách nước thải khỏi dòng sông, một số đoạn có thể cần xử lý lớp bùn ô nhiễm, duy trì dòng chảy môi trường và theo dõi oxy hòa tan, thay vì chỉ hoàn thành phần xây dựng trên bờ.

Đặc điểm thủy văn khiến các dòng sông phản ứng khác nhau. Theo ông An, kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè có dòng triều lên xuống, tạo trao đổi nước với sông Sài Gòn, nhiều kênh nội đô lại ít luân chuyển. Ông lưu ý, khoảng một thập niên sau cải tạo, Nhiêu Lộc – Thị Nghè vẫn có thời điểm ô nhiễm do nguồn thải chưa được loại bỏ hết và cống chưa kết nối hoàn chỉnh. Không thể áp dụng một giải pháp chung cho cả dòng sông có trao đổi triều và kênh tù đọng.

Ngay cả khi nước thải sau xử lý đạt yêu cầu, vị trí và quy mô xả vẫn phải tính đến sức chịu tải của đoạn sông tiếp nhận. Nếu một khúc sông đã ô nhiễm nặng và gần hết khả năng tiếp nhận, tập trung thêm lưu lượng lớn vào đó sẽ đặt ra yêu cầu đánh giá lại quy hoạch, dòng chảy và khả năng phục hồi. Quy chuẩn của nhà máy là một phần của kiểm soát, chất lượng môi trường tại nơi tiếp nhận mới phản ánh toàn bộ kết quả.

Nghiệm thu công trình chưa phải là hồi sinh

Các công trình tại kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tàu Hủ – Bến Nghé, kênh Đôi, rạch Xuyên Tâm và tuyến Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên gắn việc thu gom nước thải với khơi thông dòng chảy, thoát nước, không gian xanh và đời sống ven sông. Kinh nghiệm tại TP.HCM cho thấy nạo vét hay chỉnh trang hai bờ không thể thay cho kiểm soát nguồn ô nhiễm và vận hành hạ tầng liên tục.

Phục hồi dòng sông đô thị phải bắt đầu từ đường đi của nước thải- Ảnh 4.

Đường đi của nước thải phải được khép kín từ nơi phát sinh đến nơi xử lý.

Quản lý sông thường bị chia theo ngành và địa giới, trong khi dòng chảy không dừng ở ranh giới hành chính. Ông Nguyễn Anh Tú, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ ra quyết định và Phát triển tài nguyên nước (Cục Quản lý tài nguyên nước – Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, cần quản lý toàn lưu vực, phân định trách nhiệm giữa thượng nguồn và hạ nguồn. Nếu mỗi địa phương chỉ làm phần việc riêng, chất lượng dòng sông khó được bảo đảm.

Cách đánh giá cũng cần thay đổi. Số kilomet cống, công suất nhà máy và vốn giải ngân cho biết quy mô đầu tư, chưa chứng minh dòng sông đã hồi sinh. Cần theo dõi chất lượng nước, dòng chảy, hệ sinh thái, khả năng thu gom và hiệu quả vận hành. Dữ liệu phải được chia sẻ giữa các ngành, địa phương và đơn vị vận hành. Kết quả quan trắc cần công khai để người dân giám sát.

Người dân ven kênh vừa chịu tác động từ bồi thường, tái định cư, sinh kế và thi công, vừa có thể phản ánh tình trạng xả thải hay hư hỏng công trình. Sự đồng thuận cần đi cùng kênh giám sát thực chất, để ý kiến cộng đồng góp phần duy trì kết quả sau đầu tư.

Phục hồi dòng sông không kết thúc ở ngày nghiệm thu. Ông Nguyễn Anh Tú nhấn mạnh: “Phục hồi dòng sông không phải là một dự án xử lý ô nhiễm có điểm kết thúc, mà là quá trình được quản lý, bảo vệ và tái tạo liên tục”. Đường đi của nước thải phải được khép kín từ nơi phát sinh đến nơi xử lý. Sau đó, dòng sông vẫn cần được duy trì dòng chảy, theo dõi chất lượng và kiểm soát nguồn xả. Chỉ khi cả chuỗi vận hành, đô thị mới trả lại cho sông chức năng sinh thái và giá trị sống.

Mai Thanh

Các bài viết liên quan