Bảo đảm an ninh nguồn nước đô thị trong bối cảnh mới

Nhà máy nước Thủ Đức lấy nguồn nước thô từ sông Đồng Nai.

Nhà máy nước Thủ Đức lấy nguồn nước thô từ sông Đồng Nai.

Thách thức từ ô nhiễm thượng nguồn

Hiện nay, TP. HCM có hai cụm nhà máy xử lý nước thô chủ lực gồm Nhà máy nước Thủ Đức và Nhà máy nước Tân Hiệp. Trong đó, Nhà máy nước Thủ Đức khai thác nguồn từ sông Đồng Nai, đóng vai trò điều tiết chính cho toàn hệ thống với công suất khoảng 750.000 m³/ngày.

Ở khu vực phía Tây và Tây nam, Nhà máy nước Tân Hiệp khai thác nguồn nước thô lấy từ sông Sài Gòn với công suất 600.000 m³/ngày, góp phần cung cấp nước ổn định cho hàng triệu người dân. Ngoài ra, các nhà máy do doanh nghiệp đầu tư như BOO Thủ Đức, BOO Thủ Đức III, Kênh Đông… đã nâng tổng công suất cấp nước toàn thành phố lên khoảng 2,4 triệu m³/ngày.

Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn khiến thành phố phải đối mặt với nhiều thách thức như ô nhiễm thượng nguồn, tác động của biến đổi khí hậu, suy giảm nước ngầm và áp lực gia tăng dân số.

Theo kết quả phân tích và khảo sát của Sở Nông nghiệp và Môi trường, thành phố có khoảng 20 khu công nghiệp, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp với lượng nước thải gần 50.000 m³/ngày. Bên cạnh đó, hơn 30.000 cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, nhiều nơi chưa có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn, tiếp tục gây áp lực lên nguồn tiếp nhận, đặc biệt là hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn. Qua tính toán, sông Sài Gòn đang tiếp nhận hơn 76% tổng lượng nước thải đô thị và trên 66% tải lượng ô nhiễm hữu cơ (BOD5), trở thành khu vực chịu tác động lớn nhất.

Đáng lo ngại hơn nữa, không chỉ nước mặt, nguồn nước ngầm cũng đang suy giảm nhanh. Tình trạng khai thác thiếu kiểm soát cùng với xâm nhập mặn và sụt lún đất ngày càng gia tăng. Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển bền vững – Trường Đại học Tài Nguyên và Môi trường TP. HCM công bố cho thấy, mức lún tích lũy có thể lên tới khoảng 1 mét. Trong đó, nguyên nhân chủ yếu đến từ việc khai thác nước ngầm quá mức, làm giảm khả năng bổ cập tự nhiên.

Tăng cường quản lý, hướng tới giải pháp liên vùng

Trước những thách thức trên, ngành cấp nước thành phố đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ nguồn nước.

Ông Trần Thái Nguyên, Giám đốc Nhà máy cấp nước Thủ Đức – nhà máy có công suất cấp nước lớn nhất TP. HCM cho biết: Dưới tác động của biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hóa, chất lượng nguồn nước thô dọc lưu vực sông Đồng Nai, một số chỉ tiêu đã có dấu hiệu xấu hơn như: Hàm lượng vi sinh vật cao gấp 5 – 10 lần quy chuẩn, có một vài thời điểm bị ô nhiễm hữu cơ (Hàm lượng TOC) vượt 1,2 – 1,5 lần quy chuẩn.

Ngoài ra, trong những năm có tác động của El Nino đã gia tăng ô nhiễm tảo (do nhiệt độ tăng và mực nước giảm). Những chất này sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước. Từ đó, yêu cầu giám sát chất lượng nước sạch trên toàn hệ thống cấp nước, từ nguồn nước thô đến các nhà máy xử lý nước và trên mạng lưới cấp nước cũng được đặt lên hàng đầu.

Đại diện Phòng Quản lý chất lượng nước của SAWACO cho biết, cùng với việc ứng dụng khoa học công nghệ, đơn vị đã lắp đặt hệ thống giám sát trực tuyến liên tục các chỉ số quan trọng như độ màu, độ đục, hàm lượng hữu cơ, độ mặn… Qua đó, kịp thời phát hiện biến động chất lượng nguồn nước và đánh giá hiệu quả xử lý để có giải pháp ứng phó phù hợp.

Đồng thời, trên mạng lưới cấp nước, SAWACO lắp đặt hệ thống giám sát trực tuyến tại các điểm trước khi nước được đưa vào mạng lưới và tại một số vị trí trọng yếu, nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng nước. Ngoài ra, các nhà máy cũng áp dụng công nghệ giám sát độc chất định tính bằng vi sinh. Khi nguồn có độc chất bất thường, vi sinh sẽ biến động, từ đó cảnh báo và tự lấy mẫu để phân tích định lượng, để loại bỏ độc chất nếu có.

SAWACO đang lập kế hoạch trong năm 2026 sẽ thực hiện đầu tư thêm hệ thống châm than hoạt tính, bảo đảm xử lý mùi, màu và độc chất có trong nước. Ngoài ra, trước thách thức bảo vệ nguồn nước, ngành cấp nước thành phố đã chủ động thực hiện lộ trình giảm, tiến tới chấm dứt khai thác nước ngầm theo Quyết định của UBND TP. HCM.

Đến cuối năm 2025, SAWACO đã giảm việc sử dụng, khai thác nước ngầm tại các trạm và giếng do đơn vị quản lý từ 100.000 m3/ngày còn 36.000 m3/ngày. Lộ trình tiếp theo sẽ giảm xuống còn 30.000 m3/ ngày. Đơn vị tiến hành trám lấp các giếng không khai thác và đang lập dự án trám lấp nhiều giếng khác trên địa bàn thành phố.

Trong đó, Xí nghiệp Cấp nước sinh hoạt nông thôn của thành phố đã hoàn thành trám lấp 166 giếng tại 79 trạm, đồng thời đang rà soát, tổng hợp các giếng hư hỏng, không còn sử dụng để tiếp tục xử lý.

TS. Nguyễn Huy Cương – Trưởng bộ môn Cấp thoát nước, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. HCM cho rằng, nếu thành phố tổ chức quy hoạch và thực hiện mô hình cấp nước liên vùng, liên tỉnh, khi đó có thể xây dựng nhà máy nước gần đầu nguồn với hai nguồn nước thô chính cho thành phố là hồ Dầu Tiếng (cốt nền 28m) và hồ Trị An (cốt nền 80m).

Như vậy, việc truyền tải nước sạch từ hai điểm này cho các địa phương xuôi về phía hạ nguồn (sông Sài Gòn, sông Đồng Nai), trong đó có TP. HCM sẽ thuận lợi, giảm được chi phí điện năng, quan trọng hơn nữa là nguồn nước thô có chất lượng tốt hơn, hạn chế ô nhiễm và hạn mặn so với lấy nước từ các vị trí như hiện tại.

Trong bối cảnh hiện nay, bảo đảm nguồn nước sạch không chỉ là yêu cầu thiết yếu của dịch vụ công, mà còn là nhiệm vụ mang tính chiến lược đối với sự phát triển bền vững của TP. HCM. Để thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, cần tăng cường phối hợp liên vùng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực quản lý và chủ động dự báo sớm. Đây là những yếu tố then chốt nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước cho đô thị lớn nhất cả nước trong dài hạn.

Khiêm Anh

Các bài viết liên quan