GS.TS Trần Thị Việt Nga – Giảng viên cao cấp, Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt – Nhật (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội), UVBCH Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA), cũng chính là nhà khoa học vinh dự được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho những đóng góp nổi bật trong lĩnh vực kỹ thuật cấp thoát nước và môi trường.

Ngày 06/3/2026, Thủ tướng Phạm Minh Chính; bà Nguyễn Thị Doan, nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia Việt Nam và bà Lê Thị Thủy, Bí thư Đảng ủy TW Hội LHPN Việt Nam trao tặng Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho GS.TS. Trần Thị Việt Nga.
Trong dòng chảy không ngừng của khoa học và công nghệ, có những nhà khoa học chọn cho mình những lĩnh vực nghiên cứu thầm lặng nhưng mang ý nghĩa thiết yếu đối với cuộc sống. Với GS.TS Trần Thị Việt Nga, đó là lĩnh vực xử lý nước và nước thải, nơi khoa học không chỉ dừng lại ở các phòng thí nghiệm, mà phải đi vào thực tiễn của đô thị, của những dòng sông, của những hệ thống hạ tầng môi trường đang ngày ngày vận hành hối hả cùng nhịp sống.
Trong cuộc trò chuyện với Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam, nữ giáo sư đã chia sẻ về hành trình khoa học của mình, những trăn trở với ngành Nước, cũng như niềm tin vào thế hệ kỹ sư tương lai.
HÀNH TRÌNH GẮN BÓ VỚI NGÀNH NƯỚC
PV: Thưa Giáo sư, cảm xúc của bà như thế nào khi được vinh danh với Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 – một giải thưởng uy tín dành cho các nhà khoa học nữ của Việt Nam?
GS.TS Trần Thị Việt Nga:
Được trao Giải thưởng Kovalevskaia là niềm vinh dự và hạnh phúc lớn đối với tôi. Kết quả nghiên cứu và giải thưởng ấy là sự cộng hưởng, công sức và sự nỗ lực của cả tập thể. Khi làm nghiên cứu, tôi không nghĩ nhiều đến thành công lớn lao mà chỉ khát khao hoàn thành mục tiêu. Kết quả đó khi mang lại lợi ích cho cộng đồng thì lại càng ý nghĩa.

GS.TS Trần Thị Việt Nga nhân dịp nhận danh hiệu Nhà giáo tiêu biểu năm 2022
Bản thân tôi thực sự xúc động khi nhận được Giải thưởng Kovalevskaia. Với tôi, đó là sự ghi nhận của Nhà nước đối với thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực hạ tầng cấp thoát nước và môi trường, đặc biệt về xử lý nước và nước thải – một lĩnh vực vốn rất thầm lặng nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và an sinh của cả cộng đồng.
PV: Trong các dự án, công trình nghiên cứu của mình, bà tâm huyết với những dự án nào?
GS.TS Trần Thị Việt Nga: Nhiều năm qua, tôi cùng các cộng sự đã theo đuổi những hướng nghiên cứu mới. Một trong những thành công mà tôi tâm đắc nhất là việc làm chủ Công nghệ Màng lọc kỵ khí (AnMBR). Đây là giải pháp kết hợp quá trình sinh học kỵ khí và màng vi lọc tấm phẳng đặt ngập, không chỉ giúp xử lý nước thải hiệu quả cao để tái sử dụng mà còn hỗ trợ thu hồi năng lượng sạch thông qua khí sinh học với hàm lượng mê tan có thể lên tới 80%. Công nghệ này còn có tiềm năng thu hồi Nitơ, Phốt-pho và các chất có ích từ dòng thải để có thể sản xuất phân bón sinh học, nhựa sinh học…
Bên cạnh đó, có các nghiên cứu tận dụng các loại vật liệu mới từ phế thải như bê tông thải, gạch, bê tông khí chưng áp (AAC), than sinh học làm vật liệu lọc để xử lý ô nhiễm; Đề án phục hồi các con sông nội đô tại Hà Nội… Hiện tại tôi và cộng sự đang tập trung cho dự án SATREPS, được triển khai trong 5 năm (2023 – 2028) nhằm phát triển công nghệ xử lý cho hệ thống cấp nước an toàn, thích ứng với biến đổi khí hậu.
PV: Khi nhìn lại hành trình nghiên cứu của mình, giáo sư nghĩ đâu là yếu tố quan trọng nhất giúp bà bền bỉ theo đuổi khoa học trong suốt nhiều năm qua?
GS.TS Trần Thị Việt Nga:
Nghiên cứu luôn song hành với cả thành công lẫn thất bại. Những khó khăn, thử thách là điều không thể tránh khỏi và được xem như một phần tất yếu của quá trình tìm tòi tri thức. Với tôi, khoa học chưa bao giờ là công việc của riêng một cá nhân. Mỗi kết quả nghiên cứu đều là thành quả của sự đóng góp, nỗ lực và cộng hưởng trí tuệ của cả tập thể.
Cho đến nay, tôi luôn cảm thấy hạnh phúc và may mắn vì được làm công việc nghiên cứu khoa học mà mình yêu thích. Khi được làm điều mình đam mê, công việc luôn mang lại năng lượng tích cực và niềm vui, vì thế tôi không cảm thấy đó là sự vất vả.
PV: Là một nữ giáo sư trong lĩnh vực kỹ thuật, bà có từng gặp những khó khăn đặc thù trên hành trình làm khoa học? Theo bà, phụ nữ làm khoa học có những lợi thế gì?
GS.TS Trần Thị Việt Nga:
Con đường nghiên cứu khoa học đối với phụ nữ không ít áp lực. Những thách thức này càng rõ rệt hơn khi họ đồng thời đảm nhiệm vai trò quản lý hoặc phải cân bằng giữa nhiều trách nhiệm khác nhau trong công việc và cuộc sống. Khả năng làm việc đa nhiệm là một trong những điểm mạnh của người phụ nữ.
Với tôi được chăm sóc gia đình là một niềm hạnh phúc. Chỉ cần biết sắp xếp hợp lý và sử dụng hiệu quả từng khoảng thời gian thì tất cả không còn là khó khăn nữa. Ngược lại, chính những khoảng thời gian dành cho gia đình lại giúp tôi cân bằng tốt nhất, thêm nguồn động lực và cảm hứng trong công việc.
Phụ nữ nghiên cứu khoa học thường không đặt nặng việc đạt được những thành tựu lớn lao. Điều họ hướng đến trước hết là hoàn thành tốt mục tiêu nghiên cứu, tạo ra những kết quả có giá trị. Khi các kết quả ấy được ứng dụng vào thực tiễn và mang lại lợi ích cho cộng đồng, việc nghiên cứu càng trở nên ý nghĩa hơn.
THU HẸP KHOẢNG CÁCH GIỮA NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN
PV: Nhiều nghiên cứu của bà tập trung vào việc phát triển các công nghệ xử lý nước và nước thải phù hợp với điều kiện Việt Nam. Theo bà, đâu là thách thức lớn nhất trong phát triển, ứng dụng công nghệ ngành Nước hiện nay?

GS.TS Trần Thị Việt Nga cùng cộng sự
GS.TS Trần Thị Việt Nga:
Thách thức lớn nhất của công nghệ ngành nước Việt Nam hiện nay không nằm ở năng lực nghiên cứu hay phát triển công nghệ, mà theo tôi, nằm ở việc xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh để công nghệ có thể được chấp nhận, chuẩn hóa và triển khai hiệu quả trong thực tế.
Mặc dù nhiều công nghệ tiên tiến, vật liệu mới hay các giải pháp vận hành và quản lý đã được các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước phát triển với chất lượng tốt, nhưng vẫn còn thiếu các cơ chế hỗ trợ giai đoạn chuyển tiếp từ nghiên cứu sang ứng dụng như tài chính cho pilot, cơ chế thử nghiệm công nghệ mới (technology sandbox), và các hướng dẫn kỹ thuật để thiết kế – vận hành.
Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và định mức kinh tế kỹ thuật cho các công nghệ mới vẫn chưa được cập nhật kịp thời, khiến các đơn vị quản lý và doanh nghiệp còn e ngại khi áp dụng. Một rào cản khác là cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các bên liên quan (nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp – đơn vị vận hành) còn hạn chế, dẫn đến việc thiếu các mô hình hợp tác đủ mạnh để thúc đẩy đổi mới công nghệ.
PV: Một trong những thách thức của khoa học môi trường là đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tế. Theo bà, làm thế nào để rút ngắn khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và các công trình cấp thoát nước?
GS.TS Trần Thị Việt Nga:
Điểm mừng là công tác nghiên cứu hiện nay ngày càng bám sát thực tế, các đề tài đều được xây dựng trên nhu cầu mà thực tiễn đặt ra. Vì vậy việc rút ngắn khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và các công trình cấp thoát nước không phải vấn đề nan giải.
Tuy nhiên việc ứng dụng kết quả nghiên cứu trong ngành cấp thoát nước và môi trường cần có thời gian và cần có sự chung tay của cả các đơn vị quản lý, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các doanh nghiệp và cả cộng đồng.
Được gắn bó và đồng hành với nhiều chương trình hoạt động của Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA), tôi thấy thời gian qua, VWSA hoạt động thực sự hiệu quả. Rất nhiều hoạt động thiết thực được triển khai, đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của ngành Cấp Thoát nước. Trong đó đặc biệt là hoạt động kết nối chuyển giao công nghệ từ cơ sở nghiên cứu đến cơ sở phát triển và doanh nghiệp sản xuất. Bên cạnh đó còn có các chương trình đào tạo liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp. Thông qua những chương trình và mô hình hoạt động như vậy, khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và các công trình cấp thoát nước đang ngày càng được rút ngắn lại, đem lại hiệu quả cao hơn.

GS.TS Trần Thị Việt Nga cùng đại diện Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST) làm việc với đại diện lãnh đạo Hội Cấp Thoát nước Việt Nam về dự án SATREPS.
PV: Là người thầy, người dẫn dắt của rất nhiều các thế hệ học trò, theo bà, sinh viên và các nhà khoa học trẻ cần chuẩn bị những gì để theo đuổi con đường nghiên cứu trong lĩnh vực nước và môi trường?
GS.TS Trần Thị Việt Nga:
Theo đuổi con đường khoa học, điều quan trọng trước hết là đam mê và nền tảng kiến thức cơ bản vững chắc, cùng khả năng thích ứng với yêu cầu của công việc nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học không nhất thiết phải bắt đầu từ những ý tưởng lớn lao, mà cần nắm vững quy trình nghiên cứu một cách bài bản: từ xác định vấn đề, lựa chọn phương pháp, đến xử lý số liệu và đánh giá kết quả khách quan.
Khoa học không chỉ là những công trình nghiên cứu hay những công bố quốc tế, mà còn là trách nhiệm đối với môi trường sống và tương lai của các đô thị. Khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần giải quyết những vấn đề của xã hội.
PV: Cảm ơn những chia sẻ chân thành của Giáo sư. Chúc bà nhiều sức khỏe và ngày càng có nhiều hơn những thành tựu mới trên hành trình nghiên cứu khoa học của mình.
GS.TS Trần Thị Việt Nga, sinh năm 1974, quê quán Thanh Chương – Nghệ An trong một gia đình có truyền thống làm khoa học. Cha và anh trai chính là những người thầy đầu tiên thắp lên trong bà ngọn lửa tri thức.
Cha của GS.TS Trần Thị Việt Nga là GS.TSKH Trần Hữu Uyển – Nguyên Trưởng bộ môn Cấp thoát nước; Viện trưởng Viện nghiên cứu cấp thoát nước và môi trường (Hội Cấp thoát nước Việt Nam) và anh trai PGS.TS Trần Thanh Sơn (đã mất) – Nguyên Trưởng Bộ môn Thoát nước và Trưởng Khoa Đô thị của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy, GS.TS Trần Thị Việt Nga đã chủ trì 14 trên tổng số 21 đề tài khoa học và công nghệ ở nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp tỉnh/thành phố và các nhiệm vụ hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, nữ giáo sư đã công bố 82 bài báo khoa học, trong đó có 40 bài đăng trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCIE/SCOPUS, tác giả của 10 giáo trình, sách tham khảo và chuyên khảo trong lĩnh vực về cấp thoát nước và môi trường, đồng thời là đồng tác giả của một bằng sáng chế quốc gia năm 2025.
Hiện tại GS.TS Trần Thị Việt Nga cùng cộng sự đang triển khai 2 đề tài cấp bộ và 1 đề tài hợp tác quốc tế. Đặc biệt, cả 3 đề tài đều về phát triển giải pháp công nghệ xử lý nước hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả xử lý các chất ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng và hóa chất, đảm bảo mục tiêu cấp nước an toàn và bền vững.
Hà Thắm (thực hiện)








