Thanh Hóa chủ động thích ứng với hạn, mặn năm 2026

Kế hoạch ứng phó được UBND tỉnh Thanh Hóa xây dựng chi tiết, từ dự báo nguồn nước đến vận hành công trình, nhằm bảo đảm an ninh nước cho sản xuất và đời sống.

Thanh Hóa chủ động thích ứng với hạn, mặn năm 2026 - Ảnh 1.

Hệ thống hồ chứa nước Cửa Đạt là một trong những khu vực chịu rủi ro cao trước nguy cơ thiếu nước.

Nguồn nước dồi dào nhưng tiềm ẩn rủi ro

Theo thông tin đề cập trong kế hoạch của UBND tỉnh Thanh Hóa, từ đầu năm đến tháng 6/2026, thời tiết có xu hướng không quá cực đoan. Nhiệt độ phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm. Nắng nóng xuất hiện từ tháng 3 và đạt đỉnh vào tháng 5-6.

Lượng mưa các tháng đầu năm nhìn chung tương đương trung bình nhiều năm gần đây, thậm chí tháng 3-5 có thể cao hơn 5 – 15%. Tuy nhiên, đến tháng 6 lại có xu hướng giảm 5 – 15%. Vì vậy, dòng chảy trên hệ thống sông Mã được dự báo không ổn định. Tại hồ Trung Sơn, lưu lượng nước thấp hơn trung bình từ 9 – 22% trong nhiều tháng. Trong khi đó, một số khu vực khác lại có xu hướng tăng.

Điểm tích cực là dung tích trữ nước trung bình trong năm 2026 trên toàn tỉnh khá cao. Ba hồ lớn Cửa Đạt, Hủa Na, Trung Sơn tích được khoảng 1,96 tỷ m³, đạt 96% dung tích thiết kế, cao hơn trung bình nhiều năm tới 17%. Toàn tỉnh Thanh Hóa có 592/610 hồ chứa, cơ bản đủ nước phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn 18 hồ không đảm bảo cấp nước trọn vụ.

Những con số này cho thấy một bức tranh hai chiều về tình hình khí tượng thủy văn và nguồn nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Có thể thấy, nguồn nước tổng thể không thiếu. Nhưng sự phân bố không đồng đều khiến nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn hiện hữu, nhất là cuối mùa cạn.

Nhận diện nhiều “điểm nóng” về hạn mặn tại Thanh Hóa

Kế hoạch đã chỉ rõ các khu vực dễ bị tổn thương đối với cấp nước sinh hoạt, nước phục vụ nông nghiệp và cả công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Đối với nước sinh hoạt

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 56 công trình cấp nước sạch tập trung với công suất khoảng 420.889 m3/ngày đêm và 516 công trình cấp nước tự chảy miền núi với công suất khoảng 36.996 m3/ngày đêm (trong đó, có 333 công trình kém bền vững và 183 công trình không hoạt động). Qua theo dõi hàng năm, trong trường hợp nắng nóng kéo dài, mực nước các sông xuống thấp, dòng chảy thiếu hụt trên địa bàn tỉnh, có thể chịu ảnh hưởng của thiếu nước, xâm nhập mặn đến việc cấp nước sinh hoạt.

Thanh Hóa chủ động thích ứng với hạn, mặn năm 2026 - Ảnh 2.

Các công trình cấp nước bị ảnh hưởng bởi hạn mặn năm 2026 chủ yếu là các công trình cấp nước sạch lấy nguồn nước thô từ hạ lưu sông Mã, sông Lèn, sông Hoạt, kênh De. (Ảnh minh họa)

Ảnh hưởng của thiếu nước, xâm nhập mặn chủ yếu là thuộc vùng Bắc sông Mã. Trong đó, tập trung ở khu vực ven biển và phường Hàm Rồng. Các công trình cấp nước bị ảnh hưởng chủ yếu là các công trình cấp nước sạch lấy nguồn nước thô từ hạ lưu sông Mã, sông Lèn, sông Hoạt, kênh De…. Có thể kể đến nhà máy nước Hàm Rồng, hệ thống cấp nước sinh hoạt cho thị trấn Hậu Lộc và một số xã lân cận, nhà máy nước sinh hoạt xã Ngư Lộc, công trình cấp nước sạch 07 xã, huyện Hậu Lộc, nhà máy nước sạch Bắc Nga Sơn, nhà máy nước Nam Nga Sơn, nhà máy nước sạch 09 xã huyện Nga Sơn…. Đây là những khu vực có nhu cầu sử dụng nước sạch cao do dân cư đông đúc và tập trung nhiều hoạt động phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Ảnh hưởng của nguy cơ thiếu nguồn nước tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, chưa thu hút được đầu tư các công trình cấp nước sạch tập trung, chưa chủ động về nguồn nước (thiếu công trình chuyển nước và công trình khai thác nước tại chỗ).

Đối với khu vực miền núi thấp, là khu vực giao giữa vùng miền núi cao và vùng đồng bằng, địa hình có nhiều đồi, núi thấp, độ dốc nhỏ và xen lẫn đồng bằng, trung du. Hàng năm, vào các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 của năm sau) thường xuyên xảy ra thiếu nước sinh hoạt do mực nước sông, suối hạ thấp.

Đối với vùng núi cao, đặc biệt khó khăn, đây là vùng đặc thù có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, dân cư sống rải rác, các công trình cấp nước tự chảy được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn hỗ trợ có quy mô thôn/bản, các công trình này sau một thời gian hoạt động, phần lớn bị hư hỏng, xuống cấp, ngừng hoạt động hoặc chưa có công trình cấp nước, phụ thuộc lớn vào nguồn nước sông, suối, các mó nước phía thượng nguồn….

Đối với sản xuất nông nghiệp

Với đặc điểm phân bố nguồn nước không đều, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cả về chất lượng và số lượng; trường hợp nắng nóng kéo dài trên diện rộng, diện tích có nguy cơ bị thiếu nước, hạn hán, xâm nhập mặn khoảng từ 14.000 – 15.000 ha. Trong đó, 8.600 – 9.800 ha có thể bị ảnh hưởng đến năng suất.

Các khu vực cuối kênh của hệ thống hồ Cửa Đạt, Sông Mực, Yên Mỹ là nơi chịu rủi ro cao. Ngoài ra, vùng trung du và miền núi thuộc các vùng Nam sông Chu, Bắc sông Mã, hạ du sông Bưởi và một số vùng thừa nước nhưng thiếu các công trình tích, trữ nước. Nhiều nơi công trình bị hư hỏng, xuống cấp không trữ được nước có nguy cơ bị ảnh hưởng.

Vùng ven biển đối mặt thêm áp lực xâm nhập mặn. Theo UBND tỉnh Thanh Hóa, hàng năm, khi nắng nóng kéo dài, mực nước sông xuống thấp, độ mặn 1‰ vùng cửa sông, ven biển duy trì ở mức cao và lấn sâu vào nội địa từ 18 – 24 km. Các trạm bơm không lấy được nước và nếu có lấy được nước thời gian lấy nước cũng chỉ khoảng từ 4 – 6 giờ, gây khó khăn cho việc cấp nước phục vụ sản xuất, các đơn vị vận hành phải theo dõi mực nước triều, nối dài ống bơm để tranh thủ bơm trữ nước

Đối với sản xuất công nghiệp

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có Khu kinh tế Nghi Sơn và 08 Khu công nghiệp (KCN). Nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp hàng năm rất lớn, khoảng 43 triệu m3.

Khu kinh tế Nghi Sơn thuộc vùng Nam sông Chu, vùng có khả năng thiếu nước cao, với nguồn nước cung cấp phục vụ sản xuất công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước từ hồ Yên Mỹ và hồ Sông Mực. Tuy nhiên, đến nay hồ Yên Mỹ vẫn chưa được phép tích nước đến cao trình mực nước thiết kế nên sẽ xảy ra thiếu nước nếu nắng nóng kéo dài.

Các KCN thuộc vùng Nam sông Chu, Bắc sông Mã và vùng hạ du sông Bưởi lấy nguồn nước từ sông Lèn, sông Mã, sông Bưởi là khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiếu nước, hạn hán, xâm nhập mặn nhưng do nhu cầu chưa cao nên khả năng thiếu nước ít hơn.

Điều tiết nguồn nước – trọng tâm của kế hoạch ứng phó

Trước thực tế trên, Thanh Hóa xác định điều tiết và sử dụng hiệu quả nguồn nước là giải pháp cốt lõi. Các hồ chứa lớn được vận hành linh hoạt. Thủy điện Cửa Đạt, Dốc Cáy phối hợp phát điện theo nhu cầu tưới nước phục vụ sản xuất. Thực hiện tưới theo kế hoạch dùng nước đã lập và phê duyệt từng vùng, tiết kiệm ngay từ đầu vụ để dành nước cho thời gian cuối vụ Xuân và đầu vụ Mùa. Nguồn nước giữa các hệ thống có thể bổ sung cho nhau, như điều tiết từ Bái Thượng sang Sông Mực.

Tỉnh cũng đặt mục tiêu tăng khả năng trữ nước. Trong đó, nhiều hồ đập sẽ được nâng cấp, sửa chữa. Các khu vực trũng được nghiên cứu xây dựng hồ điều hòa, vừa trữ nước vừa tiêu úng. Tỉnh Thanh Hóa đồng thời xác định đầu tư xây dựng mới các công trình để tăng cường khả năng tích, trữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và các ngành kinh tế khác.

Ở cấp cơ sở, các giải pháp cụ thể được triển khai đồng loạt. Kế hoạch yêu cầu, các đơn vị chuyên trách phải nạo vét kênh mương thường xuyên, tăng khả năng dẫn nước. Bên cạnh đó, các trạm bơm sẽ được duy tu, sẵn sàng vận hành. Máy bơm dã chiến được lắp đặt khi mực nước xuống thấp. Trong điều kiện khó khăn, nhiều biện pháp linh hoạt được áp dụng – đắp đập tạm, nối dài ống hút, bơm chuyền… tận dụng tối đa nguồn nước hiện có.

Chủ động thích ứng với hạn mặn

Các chương trình hành động được đề cập trong kế hoạch cho thấy Thanh Hóa không chỉ “chống” mà còn “thích ứng” với hạn mặn.

UBND Tỉnh yêu cầu lịch thời vụ cần được điều chỉnh phù hợp nguồn nước. Những vùng thiếu nước sẽ chuyển đổi sang cây trồng ít nước hơn. Đặc biệt, việc sử dụng nước tiết kiệm được đặt lên hàng đầu. Tỉnh yêu cầu điều hòa, phân phối nước hợp lý, tránh thất thoát và tranh chấp nguồn nước.

Cùng với đó, trong phòng chống xâm nhập mặn, công tác theo dõi độ mặn được tăng cường. Các cống được vận hành linh hoạt để giữ nước ngọt. Việc lấy nước được tính toán theo thời điểm triều. Đặc biệt, ngành điện được yêu cầu đảm bảo cấp điện 24/24h cho các trạm bơm trọng điểm. Điều này giúp tranh thủ tối đa thời gian có thể lấy nước.

Kế hoạch năm 2026 không chỉ giải quyết bài toán trước mắt mà còn hướng đến an ninh nguồn nước lâu dài. Tại Kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn năm 2026, Thanh Hóa đã đặt mục tiêu bảo vệ rừng đầu nguồn nhằm nâng cao khả năng điều tiết tự nhiên. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, từ dự báo nguồn nước đến sử dụng nước tuần hoàn trong công nghiệp.

Việc phối hợp liên ngành được chỉ đạo tăng cường. Từ nông nghiệp, xây dựng đến công thương, tất cả cùng tham gia công tác quản lý nguồn nước, nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, cách tiếp cận chủ động, linh hoạt của Thanh Hóa cho thấy một hướng đi rõ ràng. Không chỉ ứng phó với hạn và mặn, mà Thanh Hóa còn đang từng bước xây dựng nền tảng an ninh nguồn nước bền vững cho tương lai.

Hà Thắm

Các bài viết liên quan