Đảm bảo cấp nước an toàn trước “ba tầng” rủi ro khí hậu ở Quảng Ninh

Đảm bảo cấp nước an toàn trước “ba tầng” rủi ro khí hậu ở Quảng Ninh - Ảnh 1.

Biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn đang tạo sức ép lớn lên an ninh nguồn nước tại Quảng Ninh.

Từ thực tiễn vận hành, Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh (QUAWACO) đang áp dụng đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng hệ thống cấp nước có khả năng chống chịu cao trước thiên tai cực đoan và suy giảm nguồn nước. Hệ thống cấp nước của Quảng Ninh hiện phục vụ khoảng hơn 1,2 triệu người dân, với tỷ lệ bao phủ đạt 81,44% tại 43/54 phường, xã trên địa bàn tỉnh. Tổng công suất xử lý nước sạch đạt gần 288.000 m³/ngày đêm, trong đó nguồn nước đầu vào là nước mặt chiếm tới hơn 93% (267.950 m3 /ngày đêm).

Tuy nhiên, chính đặc thù này lại khiến hệ thống dễ bị tổn thương trước biến động khí hậu. Quảng Ninh có tới 80% diện tích là đồi núi, dân cư phân tán, hệ thống phải vận hành qua 81 trạm bơm tăng áp và 47 van giảm áp trên mạng lưới. Điều đó đồng nghĩa, chỉ cần nguồn nước thô biến động hoặc xảy ra sự cố cục bộ, toàn bộ chuỗi cấp nước có thể bị ảnh hưởng dây chuyền.

“Ba tầng” áp lực lên nguồn nước

Là đơn vị cấp nước chủ lực của tỉnh Quảng Ninh, Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh nhận diện rõ các nhóm rủi ro đang đe dọa an ninh nguồn nước của tỉnh đó là mưa lũ, hạn hán và xâm nhập mặn.

Trước hết là mưa lũ cực đoan. Các sông suối ở Quảng Ninh có lưu vực nhỏ, ngắn và dốc nên khi mưa lớn, chất lượng nước biến động rất mạnh, độ đục có thời điểm lên tới 5.000 – 7.000 NTU. Với mức độ đục này, nếu công nghệ xử lý không đủ khả năng thích ứng, nguy cơ gián đoạn cấp nước là rất lớn.

Ở chiều ngược lại, những năm gần đây, biến đổi khí hậu làm thời tiết diễn biến bất thường, nắng nóng kéo dài đang khiến nhiều hồ chứa, sông suối như Yên Lập, Cao Vân, Khe Mai, Đoan Tĩnh hay Thác Nhoòng suy giảm mực nước nghiêm trọng vào mùa khô. Đây là dấu hiệu cho thấy nguồn sinh thủy tự nhiên đang giảm dần dưới tác động của biến đổi khí hậu.

Nghiêm trọng hơn là tình trạng xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào các nguồn nước khai thác. Một số khu vực như sông Trung Lương, sông Mằn hay sông Tiên Yên đã ghi nhận hiện tượng nhiễm mặn kéo dài do nước biển dâng và thủy triều mạnh hơn. Hoạt động sản xuất của các nhà máy nước đặt tại các khu vực nói trên đang bị ảnh hưởng trực tiếp.

Đảm bảo cấp nước an toàn trước “ba tầng” rủi ro khí hậu ở Quảng Ninh - Ảnh 2.

Bên cạnh tác động của biến đổi khí hậu, tại thượng nguồn các sông còn tồn tại hoạt động xả thải, khai thác khoáng sản làm suy giảm chất lượng nước thô.

Không chỉ nước mặt, nguồn nước ngầm cũng đang bị suy giảm và ô nhiễm. Một số giếng khai thác tại khu vực Móng Cái đã không còn khả năng sử dụng do nhiễm mặn hoặc khai thác quá mức. Đại diện QUAWACO cho biết, tại thượng nguồn các sông vẫn tồn tại hoạt động xả thải, khai thác khoáng sản làm suy giảm chất lượng nước thô. Khu vực Uông Bí, Quảng Yên sử dụng nước từ hồ Yên Lập qua hệ thống kênh, mương hở nên tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm do rác thải, sản xuất nông nghiệp, đồng thời dễ xảy ra thất thoát, thiếu hụt nước khi có sự cố kênh, mương.

Đặt các yếu tố này cạnh nhau có thể thấy, ngành Nước Quảng Ninh đang phải đối diện cùng lúc với ba áp lực lớn: thiên tai cực đoan, suy giảm nguồn nước và ô nhiễm môi trường đầu nguồn.

Chuyển đổi số nâng sức chống chịu cho hệ thống cấp nước

Điểm đáng ghi nhận trong chiến lược của Quảng Ninh là cách tiếp cận không chỉ dừng ở xử lý sự cố, mà chuyển dần sang mô hình quản trị rủi ro chủ động bằng công nghệ số thông minh. Một trong những giải pháp trọng tâm là nâng cấp công nghệ xử lý nước. Công ty đã ứng dụng bể lắng tải trọng cao, bể lọc hai lớp vật liệu, hệ thống SCADA điều hành vận hành nhằm tăng khả năng xử lý khi nguồn nước biến động lớn.

Song song với đó là chiến lược chủ động kiểm soát nguồn nước. Đơn vị tăng cường giám sát chất lượng và trữ lượng nguồn nước thô, đồng thời nghiên cứu các nguồn dự phòng để giảm rủi ro thiếu nước trong mùa khô hoặc khi xảy ra sự cố môi trường.

Một hướng đi đáng chú ý là công ty đã chuẩn bị dự phòng các hồ chứa nhỏ, hồ lưỡng dụng để bổ sung nguồn nước trong tương lai. Đây được xem là giải pháp có tính dài hạn trong bối cảnh các hồ chứa truyền thống ngày càng chịu áp lực bởi biến đổi khí hậu.

Ở góc độ hạ tầng, QUAWACO đang đầu tư các tuyến ống truyền tải liên kết vùng, kết nối giữa các nhà máy nước để hỗ trợ cấp nước chéo khi có sự cố. Giải pháp này đặc biệt quan trọng với những địa phương có địa hình chia cắt mạnh như Quảng Ninh, nơi mỗi khu vực thường phụ thuộc vào nguồn cấp riêng biệt.

Đứng trước yêu cầu cấp nước an toàn ứng phó thiên tai cực đoan và xâm nhập mặn, đơn vị đã và đang đưa các giải pháp chuyển đổi số và điều hành thông minh vào thực tiễn sản xuất. Đầu tư nâng cấp, cải tạo và mở rộng mạng lưới cấp nước, nhằm tăng cường năng lực truyền dẫn – phân phối, giảm thất thoát và đảm bảo duy trì cấp nước liên tục 24/7 cho khách hàng

Để giải quyết bài toán đó, doanh nghiệp triển khai và đưa vào vận hành phần mềm GIS và quản lý lưu lượng và áp lực từ xa (SCADA) với 240 điểm giám sát trên toàn hệ thống mạng cấp nước. Dữ liệu áp lực, lưu lượng và chất lượng nước được cập nhật liên tục, cho phép theo dõi biến động bất thường và phát hiện sớm nguy cơ rò rỉ. Hệ thống DMA cũng được xây dựng để phân vùng quản lý mạng lưới, thiết lập ngưỡng cảnh báo áp lực và tối ưu vận hành theo từng khung giờ sử dụng nước.

Đảm bảo cấp nước an toàn trước “ba tầng” rủi ro khí hậu ở Quảng Ninh - Ảnh 3.

Hệ thống giám sát chất lượng nước online của QUAWACO.

Đáng chú ý, nhiều trạm bơm và giếng khai thác đã được tự động hóa, điều khiển từ xa nhằm giảm phụ thuộc vào vận hành thủ công. Công tác quan trắc chất lượng nước online cũng được tăng cường với các chỉ số như pH, độ đục, Clo dư được giám sát liên tục trên toàn hệ thống. Kết quả được cập nhật ngay, đảm bảo tính minh bạch và chính xác. Từ đó, tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường hiệu suất và năng suất lao động.

Để hướng tới mục tiêu quản lý tiết kiệm và phát triển bền vững, ngành Nước Quảng Ninh đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong vận hành. Nhiều công đoạn trong dây chuyền sản xuất nước sạch đã được tự động hóa, từ châm hóa chất, cào bùn đến giám sát thiết bị, điều khiển máy bơm từ xa bằng phần mềm chuyên dụng. Đồng thời, hệ thống cảnh báo thông minh qua tin nhắn Zalo cũng được triển khai nhằm cập nhật kịp thời các thông số vận hành của nhà máy và mạng lưới cấp nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và chủ động xử lý sự cố.

Trong bối cảnh thiên tai diễn biến nhanh và khó lường, chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện hiện đại hóa doanh nghiệp, mà đã trở thành công cụ sống còn để đảm bảo an ninh cấp nước. Hệ thống cấp nước toàn tỉnh hoạt động ổn định, liên tục, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất của người dân. Các nhà máy nước được vận hành hiệu quả, đảm bảo lưu lượng và chất lượng nước cung cấp đến từng hộ gia đình.

Cần cơ chế linh hoạt, thích ứng trước rủi ro khí hậu

Đảm bảo cấp nước an toàn trước “ba tầng” rủi ro khí hậu ở Quảng Ninh - Ảnh 4.

Hệ thống xử lý nước sinh hoạt tại QUAWACO

Tuy đạt được nhiều tiến bộ xong ngành Cấp nước Quảng Ninh vẫn đang phải đối diện với nhiều thách thức chưa thể giải quyết, nếu chỉ bằng nỗ lực từ phía doanh nghiệp. Phát biểu tham luận tại Hội thảo “Giải pháp cấp thoát nước ứng phó biến đổi khí hậu” được tổ chức tại Hải Phòng đầu tháng 5 vừa qua, đại diện QUAWACO đã đưa ra nhiều kiến nghị xuất phát từ thực tiễn.

Doanh nghiệp cũng kiến nghị sớm xây dựng cơ chế điều phối, sử dụng linh hoạt nguồn nước liên vùng nhằm chủ động ứng phó khi xảy ra hạn hán hoặc sự cố nguồn cấp. Đồng thời, cần có những quy định thông thoáng hơn đối với nguồn nước ngầm theo hướng cho phép duy trì ở trạng thái dự phòng, sẵn sàng đưa vào khai thác trong các tình huống cấp bách do thiên tai, biến đổi khí hậu hay thiếu hụt nguồn nước sinh hoạt.

Bên cạnh đó, việc ban hành quy định quản lý bùn thải từ hệ thống xử lý nước cấp cũng được xem là yêu cầu cần thiết, đặc biệt là cơ chế tái sử dụng bùn thải cho các mục đích như trồng cây, san lấp hoặc sản xuất vật liệu xây dựng, góp phần thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành Nước.

Đáng chú ý, doanh nghiệp đề xuất cho phép lưu lượng khai thác nước phục vụ dân sinh được điều chỉnh linh hoạt, với biên độ tăng khoảng 25% so với giấy phép hiện hành. Theo đánh giá, cơ chế này sẽ giúp các đơn vị cấp nước nâng cao khả năng thích ứng trước tác động của biến đổi khí hậu, đồng thời đảm bảo ổn định nhu cầu sử dụng nước của người dân trong các giai đoạn cao điểm hoặc khẩn cấp.

Từ thực tiễn và những khó khăn trên cho thấy, bảo đảm cấp nước an toàn trong bối cảnh khí hậu cực đoan không còn là nhiệm vụ riêng của ngành Cấp nước. Đó là bài toán tổng hợp giữa quy hoạch tài nguyên nước, bảo vệ môi trường lưu vực, đầu tư hạ tầng và cơ chế quản trị thích ứng.

Hà Thắm

Các bài viết liên quan