Đồng bằng sông Cửu Long trước rủi ro lớn khi mùa khô đến
Theo các nhận định khí tượng, thủy văn, hiện tượng El Niño trong những tháng cuối năm 2026 và đầu năm 2027 có thể làm gia tăng nắng nóng, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn tại nhiều khu vực trên cả nước.

Nhiều khu vực trên cả nước đối mặt với nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn do El Niño. (ảnh dwrm)
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng các dự thảo kịch bản nguồn nước mùa cạn 2026 – 2027 đối với các lưu vực sông Sê San, Srêpốk và sông Cửu Long. Theo các dự thảo, Sê San và Srêpốk có nguy cơ ở trạng thái thiếu nước, nhất là vào những tháng cuối mùa cạn; lưu vực sông Cửu Long có thể ở trạng thái thiếu nước nghiêm trọng, kéo theo nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước sinh hoạt trên diện rộng.
Riêng tại ĐBSCL, tổng lượng nước dự báo về đồng bằng tại hai trạm Tân Châu và Châu Đốc trong thời gian từ tháng 11/2026 đến tháng 5/2027 khoảng 100 – 135 tỷ m³, thấp hơn khoảng 18% so với trung bình thời kỳ. Dòng chảy sông Mê Công tại trạm Kratie có khả năng thấp hơn trung bình nhiều năm từ 25 – 35%.
Nguy cơ đáng lo ngại không chỉ là sự suy giảm tổng lượng nước mà còn là xâm nhập mặn, khiến nguồn nước mặt tại một số khu vực không đáp ứng yêu cầu khai thác để sản xuất nước sạch bằng công nghệ xử lý hiện có. Vì vậy, ngay cả khi sông, kênh, rạch vẫn còn nước, nhà máy vẫn có thể phải giảm hoặc tạm dừng khai thác nếu chất lượng nước thô vượt quá khả năng xử lý.
ĐBSCL phụ thuộc lớn vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công, chế độ thủy triều và khả năng kiểm soát xâm nhập mặn. Khi dòng chảy mùa cạn suy giảm, nước mặn có thể xâm nhập sâu theo các cửa sông, ảnh hưởng đến khả năng khai thác nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sản xuất.
Các nhà máy nước lấy nước trực tiếp từ sông, kênh, rạch tại vùng cửa sông, ven biển và khu vực cuối nguồn cần đặc biệt quan tâm đến diễn biến tại từng điểm khai thác. Nguồn nước thô suy giảm, độ mặn tăng, chi phí xử lý cao hơn, khả năng tích trữ nước ngọt hạn chế và thiếu nguồn cấp thay thế có thể cùng lúc gây khó khăn cho hệ thống. Những hệ thống chỉ phụ thuộc vào một nguồn khai thác, chưa liên thông với hệ thống lân cận sẽ dễ bị tổn thương hơn. Do đó, doanh nghiệp cấp nước tại Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang và Cà Mau cần rà soát điều kiện nguồn nước tại từng nhà máy, từng điểm khai thác, thay vì chỉ dựa vào nhận định chung của toàn lưu vực.
Chính phủ yêu cầu chủ động ứng phó với hạn hán, thiếu nước
Trước nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành và địa phương chủ động triển khai giải pháp ứng phó. Ngày 20/02/2026, Thủ tướng ban hành Công điện số 15/CĐ-TTg về chủ động ứng phó với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán, cháy rừng tại Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ.
Ngày 30/10/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Chỉ thị số 39/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chủ động phòng, chống, ứng phó với các loại hình thiên tai do ảnh hưởng của El Niño năm 2026 – 2027. Theo tinh thần chỉ đạo, các cơ quan chức năng cần tăng cường dự báo, cập nhật kịch bản nguồn nước; xây dựng phương án điều hòa, phân phối nước trên các lưu vực có nguy cơ thiếu hụt; phối hợp vận hành hồ chứa, ưu tiên bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe của người dân và hài hòa nhu cầu cấp nước sinh hoạt, sản xuất, phát điện.
Bộ Công Thương được giao chủ động phương án vận hành các hồ thủy điện, bảo đảm nguồn nước hạ du, đồng thời duy trì cung cấp điện ổn định cho các công trình cấp nước sinh hoạt. Đối với ĐBSCL, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26/6/2026, triển khai chương trình hành động phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn giai đoạn 2026 – 2035.
Những chỉ đạo này cho thấy ứng phó với nguy cơ thiếu nước không chỉ là nhiệm vụ của ngành tài nguyên nước hay nông nghiệp, mà còn là trách nhiệm trực tiếp của địa phương, đơn vị quản lý công trình và doanh nghiệp cung cấp nước sạch.
Doanh nghiệp cần chuẩn bị phương án từ sớm
Ngày 18/9/2026, Bộ Xây dựng ban hành Công văn số 14747/BXD-KCHT về chủ động ứng phó nguy cơ thiếu nước, bảo đảm cấp nước an toàn trong mùa khô 2026 – 2027. Văn bản yêu cầu địa phương và đơn vị cấp nước rà soát khả năng bảo đảm cấp nước của từng công trình, cập nhật kế hoạch cấp nước an toàn, đánh giá nguồn cấp dự phòng, khả năng kết nối và hỗ trợ giữa các hệ thống. Đây là những yêu cầu cần được triển khai thực chất, không chỉ dừng ở việc xây dựng kế hoạch trên giấy.

Người dân ĐBSCL từng phải chắt chiu từng giọt nước khi mùa khô đến.
Trước nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trong mùa khô 2026 – 2027, lãnh đạo Hội Cấp Thoát nước Việt Nam khuyến nghị các hội viên, đặc biệt là doanh nghiệp cấp nước, chủ động triển khai các giải pháp ứng phó.
Trước hết, từng doanh nghiệp cần rà soát khả năng bảo đảm nguồn nước thô của các nhà máy trong suốt mùa khô. Việc đánh giá cần căn cứ vào lưu lượng, mực nước, chất lượng nguồn nước, nhu cầu tiêu thụ và khả năng vận hành thực tế. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cập nhật kế hoạch cấp nước an toàn, xác định ngưỡng cảnh báo, lượng nước dự trữ, thời gian duy trì cấp nước và phương án xử lý khi nguồn khai thác chính không còn đáp ứng yêu cầu.
Tại các nhà máy ở ĐBSCL, cần tăng cường quan trắc độ mặn tại các vị trí lấy nước, theo dõi dự báo xâm nhập mặn để lựa chọn thời điểm khai thác và tích trữ nước ngọt phù hợp. Doanh nghiệp cũng cần rà soát khả năng kết nối giữa các nhà máy, mạng lưới cấp nước; chuẩn bị phương án cấp nước dự phòng cho bệnh viện, trường học, khu dân cư tập trung và các cơ sở thiết yếu. Việc kiểm soát thất thoát, thất thu và sử dụng hiệu quả nguồn nước hiện có cũng góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước.
Hội khuyến nghị doanh nghiệp phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan quản lý tài nguyên nước và đơn vị vận hành hồ chứa để cập nhật thông tin, dự báo nguồn nước và kiến nghị phương án điều hòa phù hợp với nhu cầu cấp nước sinh hoạt. Cơ quan quản lý cần hoàn thiện cơ chế chia sẻ thông tin về nguồn nước, xâm nhập mặn và điều tiết hồ chứa; chính quyền địa phương cần xác định công trình có nguy cơ cao, bố trí nguồn lực và chuẩn bị phương án cấp nước khẩn cấp.
Công tác truyền thông tới người dân cũng cần được chuẩn bị sớm. Thông tin rõ về nguy cơ thiếu nước và khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm sẽ giúp người dân chủ động, hạn chế tích trữ không cần thiết gây áp lực lên hệ thống cấp nước.
Lãnh đạo Hội nhấn mạnh, bảo đảm nguồn nước thô và duy trì cấp nước an toàn trong mùa khô năm 2027 cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của doanh nghiệp ngay từ những tháng cuối năm 2026.
Nguy cơ thiếu nước năm 2027 hiện mới là dự báo; mức độ tác động thực tế còn phụ thuộc vào diễn biến khí tượng, thủy văn, dòng chảy thượng nguồn và các giải pháp điều hành. Thời gian còn lại cần được tận dụng để bảo vệ nguồn nước thô, tăng cường năng lực dự phòng, phối hợp điều hòa nguồn nước và nâng cao hiệu quả vận hành, không để thiếu nước sạch do thiếu sự chuẩn bị.
Mai Thanh







