Không chỉ dừng ở các giải pháp ứng phó ngắn hạn, chuỗi hơn 10 dự án chống ngập khẩn cấp Hà Nội đang triển khai cho thấy một chuyển dịch rõ nét: từ xử lý điểm ngập sang tái cấu trúc toàn diện không gian nước đô thị.

Công trường Dự án công trình khẩn cấp cải tạo tuyến hạ lưu sông Kim Ngưu nối sông Tô Lịch với Trạm bơm Yên Sở. (Ảnh: CTV)
Áp lực hiện hữu và yêu cầu hành động khẩn cấp
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, tình trạng úng ngập tại Hà Nội không còn mang tính cục bộ mà đã trở thành vấn đề hệ thống. Theo báo cáo của Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội (tháng 10/2025), sau những đợt mưa lớn, nhiều điểm ngập úng nghiêm trọng đã được ghi nhận, đặc biệt tại các khu vực trung tâm và phía Tây thành phố. Các khu vực ngập sâu và kéo dài gồm: ngõ 89 Lạc Long Quân; ngã 3 Mỹ Đình – Thiên Hiền; Lê Đức Thọ (quảng trường sân Mỹ Đình); Dương Đình Nghệ – Nam Trung Yên (sau tòa Keangnam); đường Võ Chí Công (tòa nhà UDIC); đường Phú Xá (ngã 3 Phú Xá – Phúc Hoa); phố Phan Văn Trường; Hoa Bằng (ngõ 99); phố Trần Bình; đại lộ Thăng Long; Cầu Bươu – Yên Xá; Phùng Khoang; Triều Khúc; Tố Hữu (đoạn Lương Thế Vinh – Trung Văn); bến xe Yên Nghĩa; đường Quyết Thắng; Tây Mỗ; Cầu Cốc; Do Nha; Ngọc Trục; Miêu Nha; Đông Thắng (Ecohome 1) và Nhuệ Giang. Một số khu đô thị mới cũng bị ảnh hưởng nặng: Văn Phú, Văn Quán, Dương Nội, Tây Hồ Tây, Resco, Ciputra,…
Trao đổi tại Chương trình thời sự với chủ đề “Giải quyết điểm nghẽn úng ngập đô thị – Hành động khẩn cấp, quy hoạch bền vững” do Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội thực hiện tối 8/4, ông Lê Văn Du, Trưởng phòng Quản lý hạ tầng cấp thoát nước (Sở Xây dựng Hà Nội) cho biết, ngay sau các cơn bão số 10 và 11 năm 2025, trên địa bàn Hà Nội đã xuất hiện khoảng 200 điểm úng ngập. Trong khi đó, năng lực tiêu thoát nước tại nhiều lưu vực trọng điểm mới chỉ đáp ứng khoảng 20–30% yêu cầu thiết kế. Điều này khiến hệ thống luôn trong tình trạng quá tải khi xảy ra mưa lớn. Đại diện Sở Xây dựng nhận định, ba vấn đề cốt lõi dẫn đến tình trạng úng ngập của Hà Nội, đó là: đầu tư theo quy hoạch còn thấp, tiêu chuẩn thiết kế chưa theo kịp biến đổi khí hậu và hệ thống tiêu thoát nước thiếu đồng bộ giữa nội đô và ngoại thành.
Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến – nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng), so sánh với 10 hay 20 năm trước, tình trạng ngập lụt hiện nay có một số điểm khác biệt lớn: Thứ nhất, về cường độ và tần suất, trước đây, những trận mưa ‘lịch sử’ rất hiếm khi xảy ra, nhưng nay mưa cực đoan xuất hiện dày đặc hơn. Lượng mưa trong vài giờ đôi khi bằng cả tháng cộng lại, vượt xa công suất thiết kế của hệ thống thoát nước cũ. Thứ hai, về tốc độ ngập, do quá trình ‘bê tông hóa’ quá nhanh, bề mặt không còn khả năng thấm hút tự nhiên. Nước không ngấm xuống đất được mà đổ dồn ra đường, gây ngập tức thời chỉ sau 15-30 phút mưa lớn. Thứ ba là ngập sâu hơn và thời gian ngập kéo dài hơn, có thể từ 2 đến 3 ngày. Thứ tư là diện ngập rộng, ngoài các khu vực trũng thấp truyền thống, các khu vực trước đây không bị ngập thì nay cũng ngập nặng.

PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến – nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng)
Nguyên nhân chính dẫn dến tình trạng trên là do hạ tầng quá tải, hệ thống thoát nước đa phần đã cũ kỹ, quy mô nhỏ… đầu tư mới ít, lại phải gánh thêm áp lực từ việc gia tăng dân số. Ao hồ, kênh rạch – vốn là những ‘túi chứa nước’ tự nhiên bị suy giảm trong quá trình đô thị hóa. Bên cạnh đó, công tác quản lý đô thị còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, biến đổi khí hậu khiến quy luật thời tiết ngày càng thay đổi, nước biển dâng làm giảm khả năng thoát nước tự nhiên chính là nguyên nhân khách quan gây nên tình trạng ngập úng, nhất là tại các đô thị vùng ven biển.
Ngập úng đô thị không chỉ gây khó khăn cho giao thông và sinh hoạt, mà còn kéo theo hàng loạt hệ lụy môi trường. Khi nước mưa hòa lẫn với nước thải trong hệ thống cống chung, tình trạng tràn nước thải ra môi trường có thể xảy ra, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm và dịch bệnh trong các khu dân cư. Theo ước tính, thiệt hại kinh tế do ngập úng tại các đô thị có thể lên tới 1-1,5% GDP mỗi năm, cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề và yêu cầu phải có các giải pháp hạ tầng mang tính lâu dài.
Trước áp lực trên, thành phố đã ban hành lệnh xây dựng 10 công trình khẩn cấp chống ngập với tổng mức đầu tư gần 5.600 tỷ đồng nhằm “đục thông” các điểm nghẽn trước mùa mưa năm 2026. Đồng thời, UBND thành phố vừa phê duyệt bổ sung thêm 3 công trình chống ngập khẩn cấp khác, với tổng mức đầu tư gần 1.400 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành trong Quý I/ 2027.
Hơn 10 dự án chống ngập: Tăng “dung tích” cho đô thị trước mùa mưa
Thay vì dàn trải nguồn lực, Hà Nội đang lựa chọn cách tiếp cận có trọng tâm, đó là đồng loạt triển khai hơn 10 dự án chống ngập theo lệnh khẩn cấp như những “mạch nối” quan trọng để giải phóng dòng chảy và gia tăng khả năng trữ nước cho đô thị. Các dự án được triển khai tập trung vào ba nhóm chính, đó là cải tạo – nâng cấp hệ thống dẫn nước, tăng cường công suất tiêu thoát, phát triển hệ thống hồ điều hòa đa mục tiêu.
Ở khu vực phía Bắc và Tây thành phố, các dự án cải tạo hệ thống thoát nước tại những khu đô thị đang phát triển nhanh như Resco, Tây Hồ Tây, Ciputra hay Đông Anh, Gia Lâm… được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng hạ tầng không theo kịp tốc độ đô thị hóa. Cùng lúc, việc cải tạo kênh Thụy Phương, kết hợp bổ cập nước cho sông Tô Lịch, không chỉ mang ý nghĩa thoát nước mà còn góp phần hồi sinh các dòng sông nội đô vốn đang chịu nhiều áp lực môi trường.
Ở khu vực trung tâm, dự án cải tạo hạ lưu Kim Ngưu để kết nối trực tiếp với trạm bơm Yên Sở được xem là bước đi quan trọng nhằm “giải phóng” một trong những tuyến tiêu thoát chính của thành phố. Trong khi đó, dọc Đại lộ Thăng Long – khu vực thường xuyên ngập khi mưa lớn, hệ thống cống và trạm bơm đang được nâng cấp để tăng tốc độ tiêu nước, giảm áp lực cho toàn lưu vực.
Đáng chú ý, một loạt hồ điều hòa mới như Phú Đô, Yên Nghĩa, Thụy Phương hay Mễ Trì đang dần hình thành. Khi hoàn thành, những công trình này sẽ bổ sung thêm hàng trăm nghìn mét khối dung tích trữ nước, tạo nên những “khoảng đệm” quý giá giúp thành phố chủ động ứng phó với các trận mưa cường suất lớn.
Song song với đó, các trạm bơm và bể điều tiết tại lưu vực Tô Lịch – Tả Nhuệ cũng được tăng cường, tạo nên một hệ thống vừa có khả năng dẫn, vừa có khả năng giữ và điều tiết nước. Sự kết hợp này cho thấy Hà Nội không chỉ đang “thoát nước nhanh hơn”, mà còn từng bước chuyển sang “giữ nước thông minh hơn”.
Tổng thể các dự án, với quy mô đầu tư hàng nghìn tỷ đồng và tiến độ được rút ngắn tối đa, đang tạo nên một mạng lưới hạ tầng mới – nơi mỗi công trình không tồn tại riêng lẻ, mà bổ trợ lẫn nhau để tăng sức chống chịu chung cho toàn đô thị trước mùa mưa ngày càng khắc nghiệt. Theo các chuyên gia, việc gia tăng “dung tích trữ nước” này chính là chìa khóa để giảm ngập nhanh trong điều kiện mưa cường độ lớn, điều mà hệ thống cống truyền thống khó có thể đáp ứng.
Đánh giá về hiệu quả trước mắt của các dự án chống ngập, nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng) cho rằng, các dự án này tác động trực tiếp đến những “điểm nóng” thông qua việc mở rộng mạng lưới thoát nước, như cải tạo kênh Thụy Phương giúp tiêu úng cho khoảng 350 ha, đồng thời bổ cập nước cho sông Tô Lịch. Cùng với đó là việc bổ sung các hồ điều hòa và bể điều tiết nhằm tăng khả năng lưu trữ tạm thời, giảm tải cho hệ thống cống khi mưa lớn. Tuy nhiên, theo ông, nếu nhìn ở góc độ dài hạn, đây mới chỉ là giải pháp mang tính bước đệm. Thực tế, theo quy hoạch đến năm 2030, Hà Nội cần khoảng 5.405 ha hồ điều hòa nhưng hiện mới đạt khoảng 1.010 ha, tức chưa đến 20%. Khoảng cách lớn này cho thấy các dự án chống ngập khẩn cấp chỉ mới bù đắp một phần thiếu hụt hạ tầng. Để giải quyết căn cơ, thành phố cần một chiến lược tổng thể hơn, trong đó chú trọng tính kết nối đồng bộ giữa các trạm bơm đầu mối với hệ thống kênh dẫn nội đô, đồng thời kết hợp hài hòa giữa giải pháp “xám” – giải pháp công trình và các giải pháp “xanh” như tăng diện tích mặt nước, cây xanh, bề mặt thấm.
Đẩy nhanh tiến độ, thách thức kỹ thuật
Không chỉ dừng ở kế hoạch, tiến độ triển khai các dự án đang được đẩy nhanh với yêu cầu rất cao. Thành phố đặt mục tiêu hoàn thành các hạng mục chính trước ngày 30/4/2026 và cơ bản hoàn thành toàn bộ trong tháng 6 năm nay.
Từ hành động khẩn cấp đến tầm nhìn dài hạn, thành phố đang thể hiện rõ cam kết tháo gỡ các “điểm nghẽn”, tạo chuyển biến căn cơ, bền vững trong công tác phòng, chống úng ngập. Tại nhiều công trường, hàng chục mũi thi công hoạt động đồng thời, đặc biệt với các dự án trọng điểm.
Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, việc triển khai đồng loạt nhiều dự án chống ngập trong thời gian ngắn đặt ra không ít thách thức, trước hết là thách thức về kỹ thuật. Hà Nội là đô thị phát triển nhanh, đan xen giữa khu vực cũ, khu cải tạo và các khu đô thị mới, với hệ thống hạ tầng ngầm chằng chịt gồm cống, điện, nước, viễn thông, cây xanh, chiếu sáng… Trong khi đó, dữ liệu về hạ tầng ngầm chưa thực sự đầy đủ, khiến quá trình thi công dễ phát sinh tình huống ngoài dự kiến, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ.
Bên cạnh đó, yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ và kết nối của toàn hệ thống cũng là một bài toán phức tạp. Áp lực về tổ chức thi công cũng rất lớn, đặc biệt tại các khu vực đông dân cư, nơi việc vừa thi công vừa duy trì giao thông, sinh hoạt là thách thức không nhỏ. Cơ chế triển khai khẩn cấp càng làm gia tăng yêu cầu về giải phóng mặt bằng và bố trí không gian thi công trong thời gian ngắn.
Ngoài ra, sự phối hợp liên ngành được xem là yếu tố then chốt. Chỉ cần một khâu thiếu đồng bộ có thể ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ chung. Đặc biệt, trong bối cảnh thi công theo lệnh khẩn cấp, nên cần kiểm soát chặt chẽ khâu nghiệm thu chất lượng các công trình, nếu không sẽ để lại những hệ quả trước mắt và cả lâu dài.

Dự án cải tạo kênh Thụy Phương đang thi công đồng loạt từ trạm bơm đến các tuyến cống, kỳ vọng bổ cập nước cho sông Tô Lịch và giảm ngập cho nhiều khu vực. Ảnh: Tường Thư
Chiến lược dài hạn: Tái thiết không gian nước đô thị
Một điểm mới trong cách tiếp cận lần này của Hà Nội là việc nhìn nhận chống ngập không chỉ là xây thêm công trình, mà là tái thiết toàn bộ hệ sinh thái nước trong đô thị. Các hồ điều hòa được xem như “bộ nhớ nước” của thành phố; các tuyến kênh, sông được phục hồi vai trò dẫn nước – trữ nước – điều tiết; và các khu vực trũng có thể được quy hoạch như vùng đệm chấp nhận ngập tạm thời. Đây cũng là tiền đề để Hà Nội hướng tới mô hình “đô thị bọt biển” – một xu hướng hiện đại giúp tăng khả năng thấm, trữ và điều tiết nước tự nhiên, đã được nhiều quốc gia áp dụng. Trong đó, chuỗi các dự án chống ngập khẩn cấp chỉ đang là bước khởi đầu.
PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến khẳng định: Những dự án chống ngập này sẽ mở rộng năng lực thoát nước và tăng cường sức lưu trữ nước cho thành phố Hà Nội. Với thời gian triển khai “chạy nước rút”, thành phố đặt mục tiêu hoàn thành các hạng mục chính trước ngày 30/4/2026, huy động thi công “3 ca 4 kíp” để kịp đưa vào vận hành ngay trong mùa mưa bão năm nay. Điều đó chứng tỏ Hà Nội đang thực sự quan tâm và quyết liệt với công tác thoát nước, chống ngập đô thị.
Tuy nhiên, để giải quyết triệt để vấn đề ngập úng, các dự án khẩn cấp chỉ là một phần trong quá trình này. Hà Nội cần duy trì sự quyết liệt trong thời gian tới đối với việc chống ngập, thoát nước. Ngoài ra, cũng cần tăng cường sự kết nối, liên thông giữa các công trình đầu mối, mạng lưới và tiêu thoát, đồng thời cũng cần căn cơ từ khâu quy hoạch. Phải đảm bảo được việc thực hiện các dự án tuân thủ quy hoạch đã phê duyệt để tạo hiệu quả lâu dài.
Theo đề án chống ngập giai đoạn 2026–2030, Hà Nội dự kiến cần tới khoảng 20.000 tỷ đồng để hoàn thiện hệ thống thoát nước đồng bộ, kết hợp cả giải pháp công trình và phi công trình. Trong đó, các định hướng quan trọng bao gồm: xây dựng hệ thống quản lý thoát nước theo thời gian thực, hoàn thiện bản đồ cao độ nền đô thị, kết nối đồng bộ giữa thoát nước đô thị và thủy lợi và phát triển các không gian trữ nước phân tán.
Các chuyên gia nhận định, nếu được triển khai nhất quán, Hà Nội có thể chuyển từ trạng thái “bị động chống ngập” sang “chủ động thích ứng”, qua đó nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Để giải quyết bài toán thoát nước Hà Nội trong bối cảnh cực đoan, cần phải kết hợp triển khai cả giải pháp hạ tầng mềm và hạ tầng cứng. Hạ tầng mềm, tức là thoát nước bền vững như là mô hình thành phố bọt biển hay là khôi phục, bảo vệ các khu vực chứa nước tự nhiên. Hạ tầng cứng, tức là hệ thống được xây dựng như các bể ngầm chứa nước hay xây dựng hoàn thiện mới. Đồng thời sử dụng công nghệ thoát nước trong từng vùng, làm sao cho hợp lý và phải xuất phát từ quy hoạch – PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến nhấm mạnh thêm.
Những công trường chống ngập hôm nay là một trong những bước cần thiết để giải quyết các điểm úng ngập trước mắt, và đang định hình lại cách thành phố tương tác với nước trong tương lai. Khi các dự án hoàn thành, không gian đô thị sẽ có thêm “dung tích mềm” để hấp thụ các cú sốc thời tiết. Đó không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà là bước chuyển trong tư duy phát triển: từ “thoát nước càng nhanh càng tốt” sang “giữ nước – điều tiết – thích nghi”.
Hà Thắm







