Khi gánh nước vẫn là câu chuyện của phụ nữ
Ở nhiều nơi trên thế giới, việc tiếp cận nguồn nước sạch vẫn chưa phải điều hiển nhiên. Theo các báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), hàng tỷ người vẫn phải đối mặt với tình trạng thiếu nước sạch và vệ sinh cơ bản. Thực tế này không dừng ở vấn đề hạ tầng hay môi trường. Nó còn mang tính giới rất rõ rệt.

Người phụ nữ Tây nguyên cùng những đứa trẻ kiếm tìm từng giọt nước trong mùa khô. Ảnh: Nguyễn Linh Vinh Quốc
Theo phân tích chuyên sâu đầu tiên về bất bình đẳng giới trong vấn đề nước uống, vệ sinh và phòng dịch (WASH) tại các hộ gia đình do UNICEF công bố, phụ nữ và trẻ em gái chịu trách nhiệm lấy nước ở 7 trên 10 hộ gia đình không có nguồn cung cấp nước tại chỗ. Trên toàn cầu, phụ nữ là đối tượng chịu trách nhiệm chính trong việc lấy nước cho gia đình, trong đó bé gái có khả năng đảm nhận trách nhiệm này cao gấp gần hai lần so với bé trai.
Điều đó đồng nghĩa với việc mỗi ngày, hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái phải dành nhiều giờ để đi bộ hàng cây số, mang vác những can nước nặng từ giếng, suối hoặc điểm cấp nước cộng đồng về nhà.
Vào tháng 8/2016, nhân sự kiện Tuần lễ nước Thế giới tại Stockholm (Thụy Điển), ông Sanjay Wijesekera, khi ấy đang là Giám đốc toàn cầu Chương trình về Nước, Vệ sinh và Môi trường của UNICEF nhấn mạnh: “Trên toàn cầu, phụ nữ và trẻ em gái dành khoảng 200 triệu giờ mỗi ngày để lấy nước. Hãy tưởng tượng, 200 triệu giờ tương đương với 8,3 triệu ngày, hay hơn 22.800 năm. Điều đó giống như việc một người phụ nữ bắt đầu với chiếc xô rỗng của mình từ thời kỳ đồ đá và mãi đến năm 2016 mới mang được nước về nhà. Hãy nghĩ xem thế giới đã tiến bộ đến mức nào trong khoảng thời gian đó? Hãy nghĩ xem phụ nữ có thể đạt được những thành tựu gì trong khoảng thời gian đó?”

Những người phụ nữ Chăm trên đường đi lấy nước. Ảnh: Phạm Thị Thu
Phép so sánh và những câu hỏi ấy chắc chắn xoáy sâu vào suy nghĩ của rất nhiều người về những thiệt thòi trong hoàn cảnh thiếu nước mà người phụ nữ phải gánh chịu.
Bà Cecilia Sharp – Giám đốc hiện tại của Chương trình WASH và CEED thuộc UNICEF cho biết: “Mỗi bước chân mà một bé gái phải đi để lấy nước là một bước lùi khỏi việc học tập, vui chơi và sự an toàn. Nước sạch, nhà vệ sinh không đảm bảo và việc rửa tay không đúng cách tại nhà sẽ tước đoạt tiềm năng của các bé gái, ảnh hưởng đến sức khỏe của các em và duy trì vòng luẩn quẩn của nghèo đói”.
Ở nhiều cộng đồng nông thôn, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, việc gánh nước vẫn là một phần quen thuộc trong đời sống hàng ngày của phụ nữ. Không chỉ là công việc nặng nhọc, hành trình tìm kiếm nước còn tiềm ẩn nhiều rủi ro về sức khỏe và an toàn. Chính vì vậy, ngày càng nhiều chuyên gia phát triển coi tiếp cận nước sạch không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là một yếu tố then chốt của bình đẳng giới.
“Lá chắn” sức khỏe và quyền học tập của trẻ em gái
Nước sạch và vệ sinh môi trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Theo các tổ chức quốc tế, hơn 2,2 tỷ người trên thế giới vẫn chưa được tiếp cận nguồn nước uống an toàn tại nhà, trong khi 3,4 tỷ người chưa có hệ thống vệ sinh an toàn. Thiếu nước sạch và vệ sinh là nguyên nhân của nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như tiêu chảy, tả, thương hàn hay nhiễm khuẩn đường ruột. Mỗi năm, hàng trăm nghìn trẻ em tử vong do các bệnh liên quan đến nước bẩn và điều kiện vệ sinh kém.
Trong bối cảnh đó, phụ nữ thường là những người chịu tác động nhiều hơn cả. Trong gia đình, họ chính là người trực tiếp sử dụng nước cho nấu ăn, giặt giũ và cũng là người chăm sóc trẻ nhỏ, người già yếu, người bệnh. Khi nguồn nước không đảm bảo an toàn, nguy cơ phơi nhiễm bệnh tật đối với phụ nữ cũng từ đó tăng lên. Vì vậy, việc đảm bảo nguồn nước sạch là một trong những điều kiện tiên quyết giúp giảm bệnh tật cho trẻ em, giảm đi gánh nặng chăm sóc sức khỏe đối với phụ nữ.
Thiếu nước sạch còn tác động trực tiếp đến cơ hội học tập của trẻ em gái. Ở nhiều nơi, trẻ em gái phải nghỉ học để phụ giúp gia đình đi lấy nước. Việc di chuyển xa và mất nhiều thời gian khiến các em bỏ lỡ giờ học hoặc không thể tiếp tục đến trường.
Ngay cả khi đã đến trường, điều kiện vệ sinh thiếu thốn cũng là rào cản lớn. Nhiều trường học trên thế giới vẫn chưa có nhà vệ sinh riêng, nguồn nước sạch hoặc điều kiện vệ sinh phù hợp cho nữ sinh. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến các em gái trong độ tuổi dậy thì.

Nước sạch về bản Mông. Ảnh: Ngô Trí Thành
Tại Việt Nam, theo UNICEF, gần 40% trẻ em gái và cha mẹ chưa có đầy đủ kiến thức và kỹ năng về quản lý vệ sinh kinh nguyệt, trong khi nhiều trường học vẫn thiếu các dịch vụ vệ sinh phù hợp. Tình trạng này có thể khiến các em cảm thấy xấu hổ, lo lắng hoặc bị trêu chọc, từ đó ảnh hưởng đến tâm lý và việc học tập.
Bởi vậy, khi nước sạch và nhà vệ sinh đạt chuẩn được đưa vào trường học, không chỉ sức khỏe học sinh được cải thiện, mà cơ hội giáo dục của trẻ em gái cũng được bảo vệ.
Sự bảo vệ thầm lặng dành cho phụ nữ
Theo bà Rana Flowers, Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam, nước sạch và vệ sinh là yếu tố cốt lõi để phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi người dân được tiếp cận nước sạch và điều kiện vệ sinh tốt, nguy cơ bệnh tật giảm đáng kể và chất lượng cuộc sống được cải thiện.
Đặc biệt, nước sạch giúp giảm bệnh tật, nâng cao sức khỏe cộng đồng, đồng thời giải phóng thời gian lao động cho phụ nữ – những người vốn phải dành nhiều thời gian cho việc lấy nước và chăm sóc gia đình.
Ngày nay, nước sạch được nhìn nhận không chỉ như một dịch vụ hạ tầng, mà còn là một yếu tố bảo vệ xã hội. Khi mỗi gia đình có nguồn nước sạch ngay tại nhà, phụ nữ không còn phải đi xa lấy nước, trẻ em gái có thêm thời gian đến trường, nguy cơ bệnh tật và ô nhiễm môi trường giảm đáng kể.
Ở cấp độ rộng hơn, nước sạch còn góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, cải thiện chất lượng giáo dục và nâng cao năng suất lao động. Như nhiều chuyên gia phát triển nhận định, đầu tư cho nước sạch là một trong những khoản đầu tư hiệu quả nhất cho tương lai xã hội.
Khoảng trống trong bức tranh nước sạch tại Việt Nam

Trên toàn cầu, phụ nữ và trẻ em gái là đối tượng chịu trách nhiệm chính trong việc lấy nước cho gia đình. Ảnh: Nguyễn Vinh Hiển
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay khoảng 88,5% người dân nông thôn đã sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 51% được tiếp cận nguồn nước sạch đạt quy chuẩn của Bộ Y tế. Đồng thời, 75% hộ gia đình nông thôn đã có nhà tiêu hợp vệ sinh. Tuy vậy, khoảng cách giữa nước hợp vệ sinh và nước sạch đạt chuẩn vẫn còn khá lớn.
Theo báo cáo về các nước thu nhập trung bình năm 2020 của UNICEF, tại Việt Nam có 30 triệu người dân nông thôn không được tiếp cận nước sạch đạt chuẩn, hơn 16 triệu người dân nông thôn sử dụng nhà vệ sinh không hợp vệ sinh, và hơn 5 triệu học sinh tiểu học và trung học không được tiếp cận nước sạch và nhà vệ sinh tại trường học.
Các khoảng trống này thường tập trung ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số hoặc vùng khan hiếm nước, khu vực chịu tác động của biến đổi khí hậu. Đây đều là những nơi phụ nữ và trẻ em gái vẫn hàng ngày phải đối mặt với nhiều khó khăn trong tiếp cận nước sạch.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của nước sạch đối với sức khỏe và phát triển xã hội, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình và chiến lược lớn trong lĩnh vực này. Năm 2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng UNICEF đã công bố Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược đặt ra mục tiêu: Đến năm 2030, 65% dân số được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn, 100% hộ gia đình, trường học và cơ sở y tế có nhà vệ sinh đạt chuẩn; đến năm 2045, 100% người dân được tiếp cận nước sạch và dịch vụ vệ sinh an toàn.
Trong hành trình phát triển bền vững, nước sạch không đơn thuần là dòng nước chảy qua những đường ống. Đó còn là sự bảo vệ thầm lặng dành cho phụ nữ và trẻ em gái – những người thường đứng ở tuyến đầu của những tác động từ thiếu nước và vệ sinh kém.
Mỗi công trình cấp nước, mỗi hệ thống cung cấp nước sạch được xây dựng không chỉ mang lại sự tiện nghi trong sinh hoạt, mà còn mở ra những cơ hội mới cho sức khỏe, giáo dục và bình đẳng xã hội.
Hà Thắm








