Cần thiết xây dựng Luật Cấp Thoát nước và kinh nghiệm trên thế giới

Theo thống kê mới nhất của Bộ Xây dựng, đối với khu vực đô thị trên cả nước có khoảng hơn 250 doanh nghiệp cấp nước, đang vận hành khoảng 750 nhà máy nước và mạng đường  ống cấp nước bao phủ khu vực đô thị, khu dân cư nông thôn lân cận; tổng công suất các nhà máy nước khoảng 12,6 triệu m3/ngđ, tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch giảm từ 35% (năm 1998) xuống còn 16,5%. Điều này phản ánh mối quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp và người dân đối với thực tiễn tiếp cận nước sạch an toàn, bền vững trong bối cảnh thế giới chịu nhiều tác động  của biến đổi khí hậu, khủng bố, an ninh chính trị. Đáng chú ý, đối  với cấp nước nông thôn, tổng số công trình cấp nước tập trung khoảng 16.573 công trình, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt khoảng 88,5%, trong đó 51% đạt  QCVN 01:2009/BYT (các trạm cấp nước có công suất > 1.000  m3/ngđ). 

Trong khi đó, đối với lĩnh vực thoát nước: Mặc dù nhận  nhiều sự quan tâm, song việc đầu tư phát triển hệ thống thoát nước và xử lý nước thải ở các địa phương vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển của xã hội. Tỷ lệ đấu nối,  thu gom và xử lý nước thải của hệ thống thoát nước  hiện nay còn thấp khi tỷ lệ bao phủ trung bình chỉ là 64%. Có khoảng 82 nhà máy xử lý nước thải tập trung đi vào vận hành với tổng công suất thiết kế khoảng  1,47 triệu m3/ngđ, xử lý chỉ đạt khoảng 15% tổng lượng nước thải đô thị. 

Cùng với đó, việc giám sát, quản lý và xử lý các vấn đề liên quan đến thoát nước và xử lý nước thải chưa được thực hiện một cách có hệ thống; tình trạng ngập  úng và ô nhiễm môi trường do nước thải vẫn đang là bài  toán khó giải đối với các cấp chính quyền. Luật hiện hành  chưa điều chỉnh về sản xuất, cung cấp nước sạch, chống  ngập, thu gom, xử lý nước thải và quản lý dịch vụ cấp nước  sạch, dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải. 

Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp bách về việc xây dựng và  hoàn thiện các quy định thuộc nội dung cấp nước sạch, thoát  nước. Bởi lẽ, quản lý và phát triển hệ thống cấp nước sạch, thoát  nước mưa, thu gom xử lý nước thải sẽ phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, bảo vệ sức khỏe cho người dân, giảm thiểu các tác động  bất lợi của biến đổi khí hậu, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế là rất cần thiết đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. 

Đánh giá việc thực thi pháp luật lĩnh vực cấp, thoát nước 

Đề thấy rõ sự cần thiết ban hành Luật Cấp, Thoát nước, Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Cấp, Thoát nước đã đánh giá cụ việc thực thi pháp luật lĩnh vực cấp, thoát nước trong thời gian qua về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân. Nhìn chung, phát triển cấp nước đô thị đã đầu tư được hệ thống các nhà máy nước cùng với mạng đường  ống cấp nước cơ bản phủ kín khu vục đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn phụ cận co bản đáp ứng  chất lượng dịch vụ tốt, ổn định; trong khi khu vực nông thôn, đầu tư manh mún, nhỏ lẻ với chất lượng đầu tư, chất lượng dịch vụ không đồng đều. Đối với kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân. Nhìn chung, phát triển cấp nước đô thị đã đầu tư  được hệ thống các nhà máy nước cùng với mạng đường  ống cấp nước cơ bản phủ kín khu vục đô thị, khu công  nghiệp và khu vực nông thôn phụ cận co bản đáp ứng chất lượng dịch vụ tốt, ổn định; trong khi khu vực nông thôn, đầu tư manh mún, nhỏ lẻ với chất lượng đầu tư,  chất lượng dịch vụ không đồng đều. Đối với lĩnh vực  thoát nước và xử lý nước thải, khối lượng đầu tư công  trình thu gom, xử lý nước thải quá thấp (chỉ đạt khoảng 15%) so với nhu cầu; tình trạng ngập úng trong điều  kiện khí hậu cực đoan diễn ra ngày càng nặng nề.  

Đề xuất 04 chính sách 

Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với các luật hiện  hành; kế thừa, phát triển những quy định về cấp, thoát  nước tại Nghị định số 117/2007/NĐ-CP và Nghị định  số 80/2014/NĐ-CP (Luật hóa), bổ sung những khoảng trống trong các luật hiện hành kết hợp các quy định có  tính chuyên ngành, nhằm đáp ứng yêu cầu, nội dung  quản lý cấp, thoát nước bằng Luật; Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Cấp, Thoát nước đề xuất 04 chính sách bao  gồm 08 chương và 69 Điều: 

Thứ nhất, Phát triển hệ thống cấp nước, thoát nước đồng bộ, thống nhất và hiệu quả theo chiến lược, quy hoạch và kế hoạch: với mục tiêu điều tra cơ bản; xây  dựng hệ thống cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải  đồng bộ, thống nhất theo quy hoạch, chiến lược, kế  hoạch phát triển cấp, thoát nước đáp ứng đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch và yêu cầu bảo vệ sức khỏe, môi  trường sống của người dân.

Thứ hai, Nâng cao chất lượng dịch vụ và đổi mới mô hình quản lý vận hành hệ thống cấp, thoát nước: với mục tiêu lựa chọn chủ đầu tư, đơn vị cấp nước, thoát nước đáp ứng năng lực tài chính, kỹ thuật trong đầu tư, vận hành công trình; Quản lý vận hành công trình cấp nước, thoát nước đáp ứng yêu cầu bền vững và hiệu quả kinh tế; Quản lý dịch vụ cấp, thoát nước, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của đơn vị cấp, thoát nước và khách hàng sử dụng dịch vụ; Bảo đảm an ninh,  an toàn cấp nước sạch và quản lý thoát nước an toàn  và bền vững. 

Thứ ba, Bảo đảm nguồn lực cho hoạt động đầu tư phát triển cấp, thoát nước: với mục tiêu huy động, tập trung các nguồn lực nhà nước và các nguồn lực khác  cho đầu tư, phát triển hệ thống cấp nước, thoát nước  và xử lý nước thải; quản lý giá dịch vụ cấp, thoát nước  bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững và hài hòa lợi ịch  giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân. 

Cuối cùng, Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả  quản lý nhà nước về cấp, thoát nước: với mục tiêu bảo  đảm vai trò quản lý nhà nước thống nhất và hiệu quả từ trung ương đến địa phương. Phân công trách nhiệm cho Bộ, ngành; trách nhiệm của UBND tỉnh, UBND theo  phân cấp về tổ chức quản lý, đầu tư phát triển cấp  nước, thoát nước và xử lý nước thải đáp ứng nhu cầu trên địa bàn. 

Trong số các nội dung đáng chú ý, dự thảo nhấn  mạnh việc bảm đảm tài chính trong các hoạt động cấp, thoát nước bao gồm huy động nguồn lực xã hội tham  gia đầu tư, vận hành các dự án cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước;

Quy định nguyên tắc sử dụng nguồn vốn nhà nước tham gia đầu tư trong doanh nghiệp cấp nước và lĩnh vực thoát nước, xử lý nước thải. Đây được coi là bước đi quan trọng của đề nghị xây dựng Luật Cấp, Thoát nước  trong việc tập trung nguồn lực cho cấp nước sạch khu vực dân cư nghèo, giải quyết cơ bản về xử lý nước thải và thoát nước chống nhập. 

Đối với hoạt động cấp nước, quy định cơ chế ưu đãi  đầu tư công trình cấp nước, hỗ trợ giá nước cho khu vực dân cư nông thôn nghèo, vùng sâu, vùng xa, biên  giới, hải đảo và vùng khó khăn về nguồn nước. Xây  dựng cơ chế giá nước bù chéo giữa nước sản xuất, công  nghiệp với nước sinh hoạt, giữa khu vực đô thị và nông thôn thông qua việc hình thành vùng phục vụ cấp nước lớn, quy mô rộng (liên huyện, liên đô thị nông thôn) từng bước khắc phục tình trạng đầu tư manh mún, kém  hiệu quả.  

Trong khi đó, đối với hoạt động thoát nước và xử lý  nước thải, Người xả nước thải phải chi trả chi phí thu gom, xử lý nước thải. Giá dịch vụ thoát nước và xử lý  nước thải phải bảo đảm đủ chi phí quản lý, vận hành;  có lộ trình thu hồi chi phí đầu tư trang thiết bị và một  phần đầu tư công trình. Giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải công nghiệp bảo đảm thu hồi toàn bộ chi phí đầu tư, vận hành công trình; Quy định phân bổ nguồn vốn nhà nước và các nguồn vốn khác cho các dự án đầu  tư công trình thoát nước, xử lý nước thải. 

Cần thiết xây dựng Luật Cấp Thoát nước và kinh nghiệm trên thế giới  - Ảnh 1.

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế 

Đề nghị xây dựng Luật Cấp, Thoát nước được nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, những khía cạnh nhận nhiều sự quan tâm như: Kinh nghiệm huy động nguồn lực đầu tư cho  cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải (Chính phủ, chính  quyền địa phương, tư nhân…); Kinh nghiệm quản lý tài  sản công trình cấp, thoát nước; Kinh nghiện bảo đảm cấp nước an toàn, quản lý thoát nước an toàn và bền vững; Kinh nghiệm quản lý phát triển cấp nước quy mô  lớn (theo vùng cấp nước trong quy hoạch) kết hợp cấp  nước quy mô nhỏ, lẻ khu vực dân cư phân tán, vùng  sâu, vùng xa. Quản lý thoát nước theo phân bố dân cư và lưu vực sông.  

Trong quá trình lập Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Cấp, Thoát nước, Bộ Xây dựng đã đề nghị Hội nước quốc tế  và các tổ chức quốc tế có liên quan phối hợp chặt chẽ, cung cấp các văn bản Luật về cấp nước, thoát nước của quốc gia có Hiệp hội cấp thoát nước là thành viên, học  hỏi kinh nghiệm quốc tế để nâng cao hiệu quả dự thảo  Luật Cấp, Thoát nước.  

Xây dựng Luật Cấp, Thoát nước là một trong những nhiệm vụ hoàn thiện, đồng bộ hệ thống văn  bản quy phạm pháp luật; làm công cụ quản lý, phát  triển cấp, thoát nước từ chiến lược, quy hoạch, đầu tư xây dựng đến khai thác vận hành nhằm cung cấp  nước sạch ổn định, bền vững, bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ sức  khỏe con người, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế –  xã hội và hội nhập quốc tế. Qua đó, tăng cường quản  lý, đáp ứng khả năng tiếp cận hiệu quả quản lý nhà  nước về cấp thoát nước và bảo đảm quyền được tiếp cận nguồn nước sạch của người dân, quyền xả thải  có kiểm soát. 

NGUYỄN MINH ĐỨC

Trưởng phòng Quản lý Cấp nước, Cục Hạ tầng Kỹ thuật, Bộ Xây dựng

Các bài viết liên quan