Nguồn nước ngầm Hải Phòng trước nguy cơ suy giảm

Mực nước ngầm giảm sâu và ô nhiễm, suối tự nhiên dần cạn

Một ví dụ rõ nhất là tại khu vực suối Côn Sơn. Năm 2023, nhóm nghiên cứu của Viện Thủy công (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) khi thực hiện đề tài “Duy trì dòng chảy cho suối Côn Sơn” đã phát hiện nguyên nhân chính khiến dòng suối ngày càng cạn là do mực nước ngầm suy giảm mạnh.

Nguồn nước ngầm Hải Phòng trước nguy cơ suy giảm - Ảnh 1.

Đến năm 2023, mực nước ngầm tại Hải Phòng đã hạ thấp thêm khoảng 40m. (Hình minh hoạ)

Số liệu khảo sát cho thấy sự thay đổi rất rõ theo thời gian. Khoảng năm 2005, người dân chỉ cần khoan giếng sâu khoảng 30m là đã có nước. Tuy nhiên đến năm 2023, mực nước ngầm đã hạ thấp thêm khoảng 40m, khiến nhiều giếng phải khoan tới 70m mới khai thác được nước.

Áp lực lên nước ngầm trong khu vực này không nhỏ. Trong những năm gần đây, dân số toàn vùng tăng khoảng 25%, trong khi diện tích khu dân cư tăng thêm 13%. Quá trình đô thị hóa làm giảm diện tích đất tự nhiên có khả năng thấm nước mưa xuống tầng ngầm. Bên cạnh đó, phần lớn hộ dân vẫn sử dụng giếng đào hoặc giếng khoan cho sinh hoạt và tưới tiêu, khiến việc khai thác nước ngầm ngày càng nhiều.

Không chỉ suy giảm về trữ lượng, chất lượng nước ngầm ở một số khu vực cũng bắt đầu xuất hiện dấu hiệu đáng lo ngại. Kết quả quan trắc nước dưới đất giai đoạn 2021 – 2024 cho thấy tại nhiều khu vực phía đông Hải Phòng đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm đa thành phần, bao gồm vi sinh, dinh dưỡng, chất hữu cơ và kim loại.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ các hoạt động can thiệp trực tiếp vào tầng chứa nước như khoan giếng, đào giếng, khai thác nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Ngoài ra, việc khoan khảo sát địa chất hoặc giếng khoan cũ không được trám lấp đúng quy định cũng tạo ra các “đường dẫn” khiến chất ô nhiễm từ bề mặt dễ dàng thâm nhập xuống tầng nước ngầm.

Kết quả quan trắc năm 2023 tại 9 địa phương khu vực phía đông Hải Phòng cho thấy khu vực An Dương (nay là các phường An Phong, An Hải và An Dương) có mức độ ô nhiễm cao nhất. Nguyên nhân chính là còn tồn tại nhiều giếng khoan cũ chưa được xử lý theo quy định.

Ở khu vực phía tây thành phố, tình trạng ô nhiễm lại mang tính chất địa chất tự nhiên. Nước ngầm có nồng độ cao của các chỉ tiêu Fe, Mn, Clorua và độ cứng. Ngoài ra, sự xuất hiện của NH₄⁺-N (amoni) trong nước ngầm có thể liên quan đến quá trình thấm lọc từ nước mặt xuống các tầng đất, làm tăng hàm lượng amoni trong tầng chứa nước.

Một yếu tố khác cũng góp phần gây ô nhiễm là hệ thống bể tự hoại tại nhiều khu dân cư chưa được bố trí hợp lý. Khi các bể này rò rỉ, nước thải có thể thấm xuống đất và lan vào tầng nước ngầm. Tình trạng bãi rác tạm, bãi rác tự phát không có lớp lót chống thấm cũng làm tăng nguy cơ nước rỉ rác ngấm xuống đất.

Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, trữ lượng nước ngầm trên địa bàn Hải Phòng vẫn khá dồi dào, song việc khai thác phải được tính toán thận trọng để tránh nguy cơ suy giảm lâu dài. Hiện lượng nước ngầm có thể khai thác được xác định ở mức khoảng 30% tổng tiềm năng tài nguyên nước dưới đất. Trong đó, khu vực phía tây thành phố có khả năng khai thác hơn 2 triệu m³ mỗi ngày, còn khu vực phía đông khoảng 929.000 m³ mỗi ngày.

Để quản lý nguồn nước hiệu quả, TP. Hải Phòng đã phân chia các khu vực khai thác thành ba vùng:

Vùng A được xác định là khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt, đóng vai trò nguồn dự trữ chiến lược. Những khu vực này ít dấu hiệu ô nhiễm, chủ yếu ưu tiên phục vụ cấp nước sinh hoạt, vì vậy việc khai thác mới bị hạn chế. Các giếng khoan đã có được giữ lại như nguồn dự phòng trong trường hợp nguồn nước mặt gặp sự cố.

Vùng B là những khu vực đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm cục bộ. Tại đây, việc khai thác nước ngầm vẫn được thực hiện nhưng phải đi kèm các biện pháp kiểm soát chặt chẽ nguy cơ ô nhiễm. Các giếng không còn sử dụng phải được trám lấp đúng quy định, đồng thời tiếp tục điều tra, khảo sát để xác định rõ hơn trữ lượng cũng như chất lượng nước trong các tầng chứa nước.

Vùng C là khu vực nhạy cảm, có nguy cơ xâm nhập mặn nên bị hạn chế khai thác tập trung. Với những khu vực này, cơ quan quản lý ưu tiên các biện pháp theo dõi, đánh giá và quản lý rủi ro nhằm bảo vệ lâu dài nguồn nước dưới đất.

Tăng cường quan trắc và chuẩn bị nguồn dự phòng

Theo quy hoạch tài nguyên nước tích hợp trong quy hoạch Thành phố giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050, Hải Phòng đang xây dựng thêm hệ thống giếng dự phòng để đảm bảo an ninh nguồn nước.

Nguồn nước ngầm Hải Phòng trước nguy cơ suy giảm - Ảnh 2.

Suối Côn Sơn mới được phục hồi. (Hình internet)

Tại khu vực phía Tây thành phố, dự kiến khoan bổ sung từ 15 20 giếng dự phòng ở các vị trí chiến lược như Chí Linh, Nam Sách và Tứ Kỳ, đồng thời duy trì các giếng đã khoan nhưng chưa khai thác để sẵn sàng đấu nối khi cần thiết.

Ở khu vực phía Đông thành phố, các khảo sát địa chất thủy văn cho thấy nguồn nước ngầm có chất lượng tốt thường nằm ở độ sâu 150 – 380 m. Những tầng nước sâu này ít bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm bề mặt và xâm nhập mặn, vì vậy được xem là nguồn dự phòng quan trọng cho các nhà máy nước như An Dương và Vĩnh Niệm.

Song song với đó, hệ thống theo dõi chất lượng nước ngầm cũng được mở rộng. Hiện nay toàn thành phố có 37 điểm quan trắc định kỳ, gồm 11 điểm ở khu vực phía tây26 điểm ở phía đông. Ngoài ra, Hải Phòng đang đề xuất bổ sung thêm 1 điểm quan trắc với 3 công trình nước ngầm tại Tiên Lãng.

Các thông số quan trắc tối thiểu bao gồm pH, TDS, chỉ số pecmanganat, NH4+, NO3-, Fe và As, với tần suất theo dõi ít nhất 4 lần mỗi năm nhằm kịp thời phát hiện các biến động bất thường của nguồn nước.

Câu chuyện từ suối Côn Sơn, những giếng khoan phải đào sâu gấp đôi so với trước đây hay các điểm ô nhiễm xuất hiện trong tầng nước ngầm đều là tín hiệu cảnh báo. Việc quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác, kiểm soát ô nhiễm và tăng cường quan trắc sẽ là yếu tố quyết định để bảo vệ nguồn nước dưới đất cho các thế hệ sau.

Trung Kiên

Các bài viết liên quan